Wednesday, August 15th, 2018 6:30:44 am

1. Sau Khi Đi Hết Biển

Ông Trần Văn Thủy là một đao diễn ở trong nước, được Trung tâm nghiên cứu William Centre (WJC) thuộc Viện đại học UMass Boston mời cộng tác trong chương trình nghiên cứu mang tên “(Re) Constructing Idenity and Place in Vietnamese Diaspora”.

Theo thông cáo của WJC, đề tài của ông Trần Văn Thủy là “Những Câu Chuyện của Người Việt”, nhưng sách của ông do Nhà xuất bản Thời Văn ấn hành vào đầu năm 2004, tại Hoa Kỳ, mang tựa đề là Nếu đi hết biển (dày 193 trang).  Sách gồm hai bài mở đầu và những bài ông Trần Văn Thủy phòng vấn bày người Việt và một người Mỹ, mà theo ông Kevin Bowen, giám đốc WJC, là “những nói đa dạng và phong phúc.”

Trong bài viết tựa đề “Nếu đi hết biển”, ông Trần Văn Thúy kể lại rằng lúc nhỏ, ông rất khâm phục bà chim chăm sóc ông, vì bà có tầm hiểu biết khá rộng, nhưng khi ông hỏi nếu đi hết biển sé đến đâu, thì bà thím không thể trả lời được.  Sau nầy, khi khôn lớn ra nước ngoài du học, ông mới tìm ra được câu trả lời.  Ông Thủy kể lại:  “Thím ơi!  Cháu thương thím, vì cho đến lúc chết thím cũng không biết đi hết biển là đến đâu.  Bây giờ cháu biết rồi thím ạ.  Nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, thì mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làm mình thím ạ.”

Quả địa cầu hình tròn, phần lớn do biển bao bọc.  Do đó trên lý thuyết, nếu một người đi một vòng quả đất bằng đường biển thì sẽ trở lại khởi điểm.  Ông Trần Văn Thủy ví von người vượt biên là người đi biển, và người vượt biên đi tìm đất sống, trước sau rồi một ngày kia cũng sẽ trở về lại quê hương mình.

Sự thật, ai cũng muốn tìm về quê hương, khôn gphari vì đã đi hết biển, nhưng vì hồn thiêng sống núi, vì tình tự dân tộc luôn luôn âm thầm thúc đẩy mọi người tìm về cội nguồn xuất phát của mình, tìm về quê hương yêu dấu của mình.  Tình tự nầy có tính cách thiêng liêng, phổ quát đối với tất cả mọi người, mọi thời trên thế giới, chứ không phải riêng của một sắc dân nào, thời đại nào.

Trong văn chương đông tây kim cổ, nước nào cũng nhân nhãn những bài thơ nói về tình yêu quê hương đậm đà sâu sắc.  “Chiều chiều ra đứng ngõ sau, / Trông  về quê mẹ ruột đau chín chiều.” (ca dao Việt).  “Ngưỡng đầu vọng mình nguyệt / Đe đầu tư cổ hương”.  (Ngẩn đầu nhìn trăng sáng/Cúi đầu nhớ quê cũ.  Lý Bạch, “Tình dạ tư” (Cảm nghĩ đêm thanh tịnh).  “Objets inanimés avez vous donc une âme? / Qui s’attache à nootre aame et la force d’aimer.” (Hỡi những vật vô tri, các ngươi có linh hồn không/ Mà lại quyện với linh hồn chúng tôi khiến chúng tôi lại yêu quý.”  Alphonse de Lamartine, “Milly, ou la tere natale”)

Một câu hỏi cần đặt ra, dầu yêu nước, yêu nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng những người Việt vượt biên, lập nghiệp ở những đất nước dân chủ tự do, khi đi hết biển, trở về quê mình, làng mình để làm gì và được làm dưới chế độ cộng sản (CS) mà đã trốn tránh?

Để làm gì thì chẳng làm gì được vì “Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện vẫn nắm quyền chính và không cho phép có sự bất đồng chính kiến nào…” (bbcvietnamese.com, 19-10-2004.)  Trước đây, có nhiều nhà thông thái lỡ tin vào chết độ CS, trở về Việt Nam, thì thân tàn ma dại suốt đời theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.  Ví dụ Trần Đức Thảo (1917-1993), Nguyễn Mạnh Trường (1909-1997).Trần Đức Thảo được xem là triết gia Việt Nam ngang tầm với Jean Paul Sartre (1905-1980) của Pháp.  nguyễn Mạnh Tường đậu lưỡng khoa tiến sĩ tại Pháp khi còn rất trẻ.  Cả hai ông trở về Bắc Việt Nam sau năm 1954, bị đảng Lao Động hành hạ và sống vất va vất vưởng, thì còn nhà trí thức nào dám trở về đóng góp với quê hương xã hội chủ nghĩa?

Chẳng những đối với những người có học vi, mà đối với toàn thể dân chúng, đảng CS thực hiện đúng câu trong “Quốc tế ca” bằng tiếng Việt là “…Bao nhiêu lợi quyện tất qua mình…”  Nhiều người tìm tất cả các cách mưu sinh để ở lại quê hương, nhưng đều vô vọng, vì nhiều lẽ, nhất là vì lý lịch không trong sáng, vì con cháu “ngụy quân ngụy quyền, tư sân bốc lột”, nên cuối cùng đành phải liều chết ra đi.  Nói trắng ra, chính đảng CS cướp hết và chận đường không cho người ta sinh sống, nên người ta đành phải ra đi.

Hiện nay, mỗi năm khoảng vài trăm ngàn người Việt về Việt Nam, nhưng chi để thăm gia đình, thăm bạn bè, du lịch, và một số để ăn chơi, hưởng thu,rồi lại ra đi, chứ ít ai ở lại. Về Việt nam thăm viếng vui chơi giải trí thì nhiều người về, còn về để trở thành công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCVN) thì chẳng thấy ai về cả, ngoại trừ một số ít người đến tuổi sắp sửa quy tiên, trở về tìm chỗ yên nghi cuối cùng bên cạnh bên cạnh ông bà tổ tiên.

Ngay cả bảy nhà văn nhà báo người Việt ở hải ngoại mà ông Trần Văn Thủy phỏng vấn trong Nếu đi hết biển, tuy lời phát biểu được ông Thủy in lại thành sách, nhưng chẳng có ai dám về hoặc chịu về trong nước sinh sống.  “Những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc đáng kinh” (lời ông Kevin Bowen, giám đốc WJC) chẳng dại gì mà trở về Việt Nam để phải lâm vào thân phận của những Phan Khôi (1887-1959), Trần Dần (1924)-?), Phùng Quán (1932-1995).

Về phần đạo diễn Trần Văn Thủy, khi qua Hoa Kỳ, ông có một ưu tư khác:  “Giờ đây trên đất Mỹ, tiếp xúc với Cộng đồng người Việt, tôi không khỏi băn khoawnveef cái điều tâm huyết tôi nói bên một thím tôi:  “…Nếu đi hết biển qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình…  Tôi không biết trong lịch sử thịnh suy của đất nước tôi có thời điểm nào, hoàn cảnh nào dẫn dến sự ly tán lòng người sâu thẳm dẫn đến việc hàng triệu người chạy ra biển ly hương bất cần mạng sống đến thể không?  Nhưng tôi biết rất rõ không ít người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể trở về quê mình, làng mình được.”Vấn đề đặt ra chính là ở đây.  Tji sao người ta “cuối cùng không thể trở về quê mình, làng mình được”?  Tuy nhiên, trả lời câu hỏi nầy, không phải về phía Cộng đồng người Việt tỳ nạn CS ở hải ngoại, bởi vì đã làm gnuwowfi, ai cũng quyền luyến cố hương.

Từ bao năm nay, trên bước đường lưu vong, biết bao nhiêu người Việt đêm đêm mộng du trở về ngồi nhà cũ mái đình xưa, “hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”.  Do đó, hãy để cho những người đang làm chủ đất nước hiện nay trả lời câu hỏi nầy.

Theo đài BBC Luân Đôn này 4-5-2004, kết quả bản khảo sát mang tựa đề “Freedom of the Press 2004:  A Global Survey of Media Independence”, cho biết hiện nay ở trong nước  “mọi cơ sở truyền thông đều nằm trong sự sở hữu hoặc kiểm soát của đảng Cộng Sản, các cơ quan nha nước, hoặc quân đội và nhiều nhà báo thực thi việc kiểm duyệt…”  (bbcvietnamese.com, ngày 4-5-2004.)

Thông báo ngày 26-10-2004 của Hội Phóng Viên Không Biên Giới phổ biến tại Thụy Sĩ cho biết CHXHCNVN đứng thứ 161 trên 167 nước được khảo sát về sự tôn trọng Quyền tự do báo chí, thua xa nước Cambodia lân cận đứng thứ 109.  (vietbao.com ngày 27-10-2004).  Nói một các khác, tính ngược lại thì CHXHCNVN đứng hạng thứ 7 trên thế giới về việc vi phạm quyền tự do báo chí.

Báo chí chưa được tự do, thì làm gì có tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do chính trị, tự do kinh doanh, tự do ngôn luận, tự do in sách, tự do phỏng vấn, ngoại trừ trường hợp “tự do” theo lệnh trên như ông Trần Văn Thủy.

Cũng theo đài BBC Luân Đôn ngày 16-9-2004, ông John Hanford, đại sử đặc trách tự do tôn giáo tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, cho biết “Việt Nam là một quốc gia kiểm soát việc hành đạo rất chặt chẽ và có nhiều người đã bị bỏ tù vì dính líu đến tôn giáo, trong đó có đạo Phật, đạo Tin Lành, Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo.”

Hoa Kỳ xếp CHXHlCNVN vào danh sách những nước đáng quan tâm đặc biệt vì “Hoa Kỳ nhận thấy Việt Nam vì phạm rát nghiêm trọng, thường là đổi xử rất tệ với những người chi muốn hành đạo của họ trong hòa bình.”  (bbcvietnamese.com, ngày 16-9-2004).

Phóng viên đài BBC, ông William Horsley, đi vào Việt Nam tìm hiểu tình hình sinh hoạt chính trị, đã viết như sau trong bài phóng sự ngày 19-10-2004 của đài nầy:  “Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện vẫn nắm quyền chính và không cho phép có sự bất đồng chính kiến nào…  Và giởi chức Việt Nam vẫn bảo vệ sự đọc quyền của họ với những biện pháp cũ.  Các tổ chức nhân quyền nói giới chức đã bắt hoặc bỏ tù hàng chục người hoạt động về dân chủ và những người lên chiến dịch đòi hỏi quyền tự do tôn giáo”  (bbcvietnamese.com, ngày 19-10-2004.)

Bên cạnh tin tức báo chí quốc tế trên đây, có lẽ nên chú ý thêm nhận ký mới được đưa ra ánh sáng của một đảng viên CS kỳ cựu.  Đó là Nhật ký rồng rắn (bắt đầu viết năm rồng tức năm canh thìn, xong năm rán tức năm tân tỵ) của Tràn Độ, cựu trung tướng Quân đội Nhân dân CHXHCVVN, Phó bí thư Trung ương cục miền Nam của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), cựu Trưởng ban Văn hóa văn nghệ trung ương (nay là ban Tư tưởng van hóa trung ương), và cựu Phó chủ tịch Quốc hội Hà Nội.

Ông viết xong quyền Nhật ký rồng rắn năm 2001, một năm trước khi ông từ trần.  Quyền nầy không được phép xuất bản trong nước, nhưng bí mật chyển ra nướ ngoài, nay mai sẽ xuất hiện.

Sau đây là một đoạn trong nhật ký của Trần Độ được trích lại trên Việt Báo Online (vietbao.com) số 3489 ngày 21-10-2004:

Sự chuyên chính tư tưởng được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cổi là”lưu manh tư tưởng “.  Chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói…   Nếu chuyên chính tư tưởng nầy đang làm cho tất cả trí, thức không dám suy nghĩ gì.  Thực ra nền chuyên chính vô sản nầy đã làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, ra sức nô dịch toàn bộ tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trỏ thành những con rồi chi biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ, giáo điều.  Nó làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng, nó làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch.  Nền chuyên chỉnh tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tân Tủy Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài.  Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ.  Xét đến cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền.  Vì không phải nó chi xâm phạm đến quyền sống của con người mà nó hủy hoại cuộc sống của rất nhiều người, đó là cuộc sống tin thần, cuộc sống tư tưởng của cả một dân tộc.  Nó đang làm hại cả một nòi giống…”

Chỉ mới tóm tắt vài bản tin báo chí, và chỉ cần độc thêm một đoạn nhật ký của moojg đảng viên CS thâm niên về chết độ ông đã phục vụ, là đủ trả lời cho thắc mắc của ông Trần Văn Thủy tại sao “Không ít người Việt xa xứ qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mã mà cuối cùng không thể trở về quê mình, làng mình được…

Nói một cách khác, sau khi đi hết biền, người Việt tỵ nạn CS cũng chỉ ghé thăm quê nhà rồi lại tiếp tục ra đi, vì không thể nào sống nổi dưới chế độ độc tài đảng trị và toàn trị của nhà cầm quyền hiện nay ở trong nước.  Ngày nay, câu nói mà nhiều người cho rằng cho danh ca Trần Văn Trạch phát ngôn cách đây trên hại thập niên, cũng còn có giá trị:  “Ở Việt Nam, cái cột đèn cũng muốn ra đi.”

Không phải riêng Việt Nam mà lịch sử thế giới từ đầu thế kỷ 20 cho thấy rằng nơi nào có thể độ CS hay xã hội chủ nghĩa, thì nơi đó có người ra đi tỵ nạn, bất kể mạng sống của mình.

Đó là một trong những lý do giải thích vì sao hiện nay hàng trăm ngàn sinh viên Việt nam ra nước ngoài du học đều kiếm tất cả các cách ở lại nước ngoài mà không muốn quay về; và cũng là lý do vì sao đi “lao động hợp tác” rất rực khổ mà nhiều người vẫn muốn ghi danh ra đi; đồng thời là lý do vì sao xảy ra chuyện lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn tràn lan hiện nay ở Việt Nam.

Thật là đau đớn với câu hỏi đặt ra là phải chăng việc lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan là một cách dùng chính thân mạng của mình là tấm vé thông hành ra khỏi Việt Nam hiện nay một cách hợp pháp?Việc nầy có thể xảy ra, vì trên Việt Báo (California), số 3506, ngày 7-11-2004, trong mục “Tin Việt Nam”, đăng lại tin của báo Đài Loan, cho biết có bốn cô gái Việt Nam, đến Đài Loan bằng visa du khách, đã “tìm cách rao ban đấu giá đời cac cô để kết hôn” (nguyên văn bản tin) trước chưa Matsu, trên đảo Penghu (Bành Hồ) với giá từ 1,000 đến 9,000 Mỹ kim để được ở lại Đài Loan, không về Việt Nam.

Cuối cùng, theo thông báo của WJC, đề tài nghiên cứu của ông Trần Văn Thủy là “những câu chuyện của người Việt” ở hải ngoại.  Ông Thủy làm một vòng phỏng vấn bảy người Việt là một người Mỹ, mà điểm đáng chú ý đầu tiên là việc nghiên cứu đề tài của ông Thủy rất đúng thời là vì quyền sách của ông Thủy được tung ra đúng vào lúc Nghi quyết 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị đang CSVN đang được khai triển ở hải ngoại.

Nhiều người nghĩ rừng đây là sự trùng hợp tình cờ, nhưng xin đừng quên rằng trong sinh hoạt chính trị, nhất là với CS, mọi sự tình cờ đều có kể hoặc.  Ở đây lộ ra sự phân công kín đáo của WJC, ông Kevin Bowen và ông Nguyễ Bá Chung.

Họ giao cho một cán bộ văn hóa của CSVN ở trong nươc phỏng vấn những người ngoài nước.  Có vậy mới tạo thế thăng bằng để cho WJC, ông Kevin Bower, ông Nguyễn Bá Chung đi mời hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huyện Chi, những cán bộ văn hóa và đảng viên CSVN, tham gia công cuộc nghiên cứu về Cộng đồng người Việt tỵ nạn.