Saturday, January 20th, 2018 6:18:25 am

60 Năm Điện Ảnh by Kiều Chinh

Tính cho đến năm 2017, nữ minh tinh điện ảnh Kiều Chinh đã tham gia và cống hiến cho nghệ thuật điện ảnh đúng 60 năm.  Sự nghiệp của bà đã trải dài từ Sài Gòn của Việt Nam đi đến các trường quay, các đại hội điện ảnh từ Châu Á sang Châu Âu và Mỹ Châu.  Người thực hiện bài phỏng vấn này, một đứa bé lớn lên khi VNCH đã mất được trưởng thành ở hải ngoại, rất hân hạnh được nghệ sĩ Kiều Chinh dành cho cuộc phỏng vấn.

“Kính thưa Cô Kiều Chinh, xin Cô nhắc lại một vài kỷ niệm cũ, từ đâu mà Điện Ảnh và Kiều Chinh lại có duyên với nhau?

Kiều Chinh:  Chào Tôn Thất Hùng, một người bạn trẻ đến từ Toronto, Canada.  Cô rất hân hạnh được tiếp Hùng tại thư phòng nhỏ bé của Cô.  Kiều Chinh và Tôn Thất Hùng dường như có duyên với nha, đã được Hùng phỏng vấn dài lần, một lần, một lần là dịp phim Pearls of the Far East, tức là Ngọc Viễn Đông chiếu tại film festival, lần mới đây nhất là Kiều Chinh đến Toronto để xuất hiện trong tư cách là người Việt Nam tỵ nạn chính trị đầu tiên tại Canada.  Vâng, đúng là năm 2017 là tròn 60 năm điện ảnh của Kiều Chinh.  Tôi vào ngành điện ảnh năm 1957 với phim Hồi Chuông Thiên Mụ, của đạo diễn Lê Dân, người thục hiện thời đó là ông Bùi Diễm, Tân Việt Phim.  Ông Bùi Diễm cũng là cựu đại sứ của VNCH, ông ông hiện đang sống tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.  Ngày đó nền điển ảnh ở Việt Nam còn mới mẻ lắm, chưa có nhiều sinh hoạt, đạo diễn Lê Dân thì vừa đi học bên Pháp về.  Cuốn Hồi Chuông Thiên Mụ cũng là cuốn phim đầu tay của ông, cũng như của Kiều Chinh.  Sau đó tôi có duyên được ở lại với điện ảnh và cũng được làm thêm với nhiều hãng phim khác, trong đó có Alpha Films thực hiện.  Thời đó Kiều Chinh đóng nhiều phim của Alpha Films.  Đây là hãng phim duy nhất ở Việt Nam có phim trường.  Ông Thái Thúc Nha thời đó từ Pháp về, rất giỏi tiếng Pháp, giỏi tiếng Mỹ và óc tổ chức.  Vì có phim trường, nên những hãng phim ngoajo quốc nào muốn quay ở Việt Nam, họ thừng phải thuê phim trường của Alpha Films.  Thời đó Kiwwfu Chinh còn nhỏ, nhưng cũng nói được tiếng Anh và Pháp, cho nên khi các phim ngoại quốc nào vào Việt Nam, tôi là người được họ thử vai đầu tiên, ví dụ như phim A Yank in Vietnam năm 1962, đạo diễn và cùng đóng với tôi là ông Marshall Thompson, những nghệ sĩ Việt Nam đống trong bộ phim này còn có anh Nguyễn Long, Đoàn Châu Mậu, Hoàng Vĩnh Lộc, Kiều Hạnh, Năm Châu…  Tôi còn nhớ một phim  Mỹ khác là CIA of Operation, mà tôi được đóng vai chính chung với một tài tử rất nổi tiếng của Mỹ thời đó là ông Burt Reynolds.  Bộ phim CIA of Operation khi đến Việt Nam là dự định quay tại Sài Gòn, nhưng vì khi ấy có vụ đảo chánh và đêm nào cũng giới nghiên nên họ không làm được, nên họ chuyển sang Bangkok quay, và Alpha Films đã hổ trợ rất nhiều khi ấy.

*Phim CIA of Operation này hiện nay đã được nhà sản xuất tại Hollywood tái bản theo hình thức  DVD và họ phát hành ở những nơi có bán băng đĩa tại Mỹ cũng như các hệ thống bán lẽ online…

Kiều Chinh:  Ô, hay quá, thế thì tôi phải đi mua, cám ơn Tôn Thất Hùng là người theo dõi điện ảnh rất kỹ.  Sau phim đó là một phim hợp tác khác nữa Alpha Films với hãng phim của Phi Luật Tân là Destination – Vietnam.  Phim quay tại Tây Ninh, trong điều kiện bị giới nghiêm và có những trận giao tranh xảy ra.  Khi làm phim này, tôi cũng như các anh Nhuyễn Long, Đoàn Châu Mậu phải ngủ qua đêm dưới hầm.  Tôi còn là một phụ nữ nằm cực khổ nên đã nhường chỗ căn phòng của ông có máy lạnh và ông ra ngủ chung với binh sĩ.  Đó là những kỷ niệm không thể nào quên thời ấy, phim ảnh đi đôi với tình trạng loạn lạc của đất nước mình lúc đó.

*Một cuốn phim lớn hợp tác giữa Hollywood và Bollywood là The Evil within cũng có Kiều Chinh đóng vai nữ chính, bên cạnh nam vương của điện ảnh Ấn Độ là Dev Anand.

Kiều Chinh:  À, đây là một phim mà tôi phải sang tận Ấn Độ để quay, rất nhiều kỷ niệm.  Trước và sau phim này, tôi cũng có thực hiện những phim khác cho các hãng phim của Thái Lan, rồi một phim khác với Mỹ Vân Films là Từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phủ.  Với Từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phú có Lê Quỳnh,  Thẩm Thúy Hằng, Đoàn Châu Mậu, Tôi nghe nói hãng Mỹ  Vân tại Hoa Kỳ sẽ thực hiện phục hội lại bộ phim cũ để chiếu.  Đây là một tin vui đối với tôi.  Các anh Lê Quỳnh, Đoàn Châu Mậu đã mất rồi, chị Thẩm Thúy Hằng thì ở xa tận bên Việt Nam, rất là thương nhớ những kỷ niệm cũ và mong được xem lại phim này.  Cũng qua phim này, ông bà chủ hãng phim Mỹ Vân đã đưa Thẩm Thúy Hằng và tôi sang dự Đại Hội Điện Ảnh Á Châu.

Trở lại với phim The Evil Within, đây là một đánh dấu sự nghiệp điển ảnh của tôi vì đây là một hợp tác giữa Hollywood và Ấn Độ.  Tôi được may mắn đóng vai nữ chính, cofnDev Anand là một nam tài tử vô cùng nổi tiếng của điện ảnh Ấn Độ.  Nick name của anh ta là Dev King, anh đi đến đâu là người ta đến xin chụp ảnh, muốn đứung gần, muốn chụp ảnh…  Trong những ngày quay phim, ngày nào cũng có bài và hình ảnh của Dev Anand và tôi xuất hiện trên trang bìa curacasc tờ báo lớn.  Vì báo chí nhắc đến tôi là một nghệ sĩ đến từ miền Nam Việt Nam, cho nên rất nhiều người ở Ấn Đọ không thích , họ bảo tại sao lại đưa vai công cúa Ấn Độ cho một cô từ Việt Nam sang, trong khi ở Ấn Độ đâu có nhiều người tài giỏi có thể thủ vai này, một công chúa của nước họ.  Nhưng đó là quyết định của hai hãng phim tại Hollywood và Ấn Độ.  Ông Đỗ Vạn Lý là Đại Sứ của VNCH thời đó tại Ấn Độ có mở một buổi tiệc tiếp tân mời  đoàn làm phim đến  và có mời những tòa đại sứ khác đến tham sự.  Thời đó Ấn Độ họ tiếp xúc ngoại giao với cả miền Nam Việt Nam, tức VNCH được nhấn mạnh.  Tôi được báo chí Ấn Độ gọi là Quốc Vương Ambassador, tôi rất vinh hạnh.  Khi trở về Việt Nam, tôi được ông ngoại trưởng Trần Văn Lắm cho người đến đón tại phi trường, mời về văn phòng dùng trà.  Ông cám ơn tôi về những sinh hoạt văn nghệ của tôi tại Ấn Độ mang chiều hướng tốt cho đất nước.  Sau đó ông tặng cho tôi một món quà tinh thần rất quý giá và vinh dự là một passport ngoại giao.  Bây giờ thì thấy một cái passport nó bình thường không thể nào đi lại thoải mái nếu không có lý do do chính phủ hay bộ ngoajo giao đồng ý, không giống như bây giờ, có tiền, mua vé máy bay là đi đâu.  Nhưng passport ngoại giao, tôi đi khi nào cũng được.  Rút ngắn câu chuyện lại, cũng vì cái diplomatic passport đó mà sau này tôi bị… vào tu.

*Đó là câu chuyện ly kỳ sau này.  Nhưng bây  giờ thì cho phép cháu có nhận xét, từ 1954 cho đến 1975, VNCH phát triển rất nhanh, không hề thu kesmcasc quốc gia nào owr Châu Á, kể cả điện ảnh.  Ở Canada cháu cũng học về làm phim, học rất siêng môn lịch sử điện ảnh, cháu biết Canada có rất ít các giải thưởng điện ảnh quôc tế về phim ảnh, trong khi đó VNCH lại được rất nhiều giải thưởng điển ảnh quốc tế, trong đó minh tinh điển ảnh Kiều Chinh cũng đã đem vinh dự này về cho nước nhà nhiều lần.  Xin Cô kể lại vài kỷ niệm về các giải thưởng, về các film festivals mà cô từng tham dự ngày ấy…

Kiều Chinh:  Tôn Thất Hùng ơ, để lời câu hỏi mang tính lịch sự này thì lại đụng vào “cái tôi” nhiều quá, mà tránh né không trả lời thì lại không hài lòng người đã đặc câu hỏi  quá hay.  Thôi thì cho Kiều Chinh mạn phép.  Thời ấy thì tôi nói được tiếng Anh và tiếng Pháp, cho nên các hãng phim và cả chính quyền đều hay gởi tôi đi dự các đại hội  điện ảnh quốc tế.  Đại hội điện ảnh quốc tế đầu tiên tôi đi dự là tại Nhận Bản năm 1965, sau đó là ở Berlin, nhiều lần ở Đài Loan…  Năm 1968 là năm Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã lập ra giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật, tôi là người đã nhận được giải Văn Học Nghệ Thuật này dành cho điện ảnh vào ngay năm đầu tiên đó…

Phim nào mà có đống để được giải thưởng vậy cô?

Kiều Chinh:  Phim từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phú đấy, tượng vàng đã mất khi chạy loạn, bây giờ chỉ còn tấm bằng chứng nhận năm 1971, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc và tôi lập hãng phim Giao Chi, tôi là nhà sản xuất dựng cuốn phim Người Tình Không Chân Dung.  Đây cũng là cuốn phim có sự góp mặt của tất cả các binh chủng VNCH góp mặt, tôi rất vinh dự và xúc động khi nhắc lại chuyện đó.  Người đóng vai chính  với tôi không là là tài tử mà là một Trung Tá Biệt Kích Quân, anh Vũ Xuân Thông.  Đây là một cuốn phim không quay tại phim trường mà hoàn toàn quay tại các mặt trận.  Chúng tôi lang thang khắp nơi để tìm cảnh quay, kể cả cảnh trong bệnh viện cũng là một quân y viện ở Nha Trang.  Những anh lính bị thương đang nằm trên các giường bệnh đều là người thật,cảnh thật chứ không phải dựng cảnh, cuốn phim để lại nhiều xúc động vô cùng cho tôi.  Khi đem cuốn phimNguwowfi Tình Không Chân Dung đến Đại Hội Điện ảnh  Á Châu năm đó, tôi được lãnh hai giải thưởng cao quý là Phim Về Chiến Tranh Hay Nhất, và Nữ Chính Hay Nhất…  Đó là những vinh dự của tôi với ngành điện ảnh Việt Nam trước 1975.  Đương nhiên là còn những phim khác, những anh chị em khác đx đem vinh dự veefcho nước nhà.

*Cộng Đòng Người Việt Tự Do, Tỵ Nạn Cộng Sản ở Canada hiện nay rất đông và lớn mạnh, tuy nhiên rất ít người biết được, nghệ sĩ Kiều Chinh chính là người Việt tỵ nạn đầu tiên ở Canada vào đúng 30 tháng 4, 1975, làm cách nào đúng ngày 30 tháng 4, 1975 Cô đã vào được đến Canada, trong khi tất cả đồng bào mình đều phải đến các trại tỵ nạn trước.

Kiều Chinh:  Tôi xin tiếp tục câu chuyện dang dở khi nãy về cái diplomatic passport…  Vào khoảng thời gian năm 1975 đó, tôi vừa xong hợp đồng đóng 2 phim ở Bangkok và 1 phim ở Singapore.  Phim với Singapore là phim cuối có tựa đề là Full House.  Người đóng vai nam chính trong phim này là con của một vị đầu ngành, cao cấp gì đó trong cảnh sát.  Khi quay xong phim là ngày 15 tháng 4, 1975, tôi đã nhận được người đang tìm đường ra đi, tôi đang ở Singapore thuận lợi thì đừng về.  Nhưng tôi nghĩ làm sao mà bỏ tất cả những thương yêu của mình ở Việt Nam, làm sao mà không về…  Vả lại tôi cũng còn cái diplomatic passport mà, đi khi nào lại không được, cứ về rồi lại đi cũng được…  Thế là tôi về…  Ngay khi về Việt Nam, tôi phải kê khai số tiền dollars đã nhận được sau khi hoàn tất 3 cuốn phim và đổi ra tiền Việt Nam ngay khi đó bị mất giá quá nhiều, mấy chục ngàn dollar đổi ra cả bao bố tiền Việt.  Khi về đến nhà ai cũng giận vì lúc này người đa đang tìm mua dollar để ra đi, còn tôi có dollar lại đem đổi ra tiền Việt.  Từ Tân Sơn Nhất đi về nhà, lòng tôi nhức nhối vì tôi chứng kiến người ta tìm cách chạy vào phi trường để ra đi, tất cả các phương tiện đều được sử dụng để chạy về hướng phi trường, mặt ai cũng lo lắng.  Chuyến bay từ Singapore về Việt Nam cũng chỉ có mình tôi là hành khách, vì chẳng ai đi vào, chỉ toàn người đi ra thôi,  Khi về đến nhà, gia đình chồng tôi ai cũng mắng, bảo tại sao không nghe lời mà cứ về…  Ở Sài Gòn, tôi nghe tin tức, tình hình cứ càng lúc càng xấu đi… mỗi ngày lại mất mấy tinh.  Gia đình chồng tôi nói thôi bây giờ đang có diplomatic passport thì hãy đi đi, truosc khi quá trễ.  Tôi thì cứ phân vì có những tin khác, ví dụ như chính phủ Pháp sẽ đứng ra can thiệp, rằng Việt Nam sẽ chia ra làm 3 phần: miền Bắc, miền Nam vẫn như cũ, còn miền Trung sẽ do người Pháp hỗ trợ cho cựu hoàng Bảo Đại quay về…  Thời đó tin tức rất “hỏa mù”, không ai biết đâu là đúng, đâu là sai…  Với cái tin này, là cựu hoàng Bảo Đại quay về miền Trung với sự can thiệp của người Pháp, không ai phải ra đi nữa, biết đâu tôi sẽ có cơ hội gặp lại người bố thân yêu của tôi đã kẹt lại ở miền Bắc từ 1954.  Bố là người tôi yêu nhất trên đời mà tôi đã xa cách khi tôi chỉ là một cô bé mười mấy tuổi thôi…  Biết đâu đây sẽ là cơ hội cho tôi gặp lại bố…  Tuy nhiên cho đến ngày 22 tháng 4, tình hình chiến sự đã quá tệ, miền Nam mất nhiều tỉnh quá rồi, gia đình nói phải đi thôi.  Một người bạn thân của gia đình là anh Nguyễn Xuân Thu, là Vice-President của Ải Vietnam thời đó, anh nói ngày mai có chuyến bay cuối cùng rời Việt Nam và khuyên tôi phải đi.  Sài Gòn đang giới nghiêm, nhưng anh Thu bảo anh sẽ đón tôi lúc 3 giờ sáng để đến phi trường đi, máy bay VIP của anh có cắm cờ, được quyền bay đêm.  Anh báo cho tôi biết khoảng 6:00 hay 7:00 giờ chiều, tôi còn đủ thời giờ đóng valise.  Tôi đóng 4-5 cái valise, phải đem theo những thứ cần thiết kể cả bức tượng vàng và những giải thưởng điện ảnh rất quý.  Vào đến phi trường, tôi đã thấy người ta đông kinh khủng, tôi được cho vào phòng VIP chơ, máy bay dự định sẽ bay vào 8 giờ sáng hôm sau.  Thế nhưng sáng ra thì được tin phi trường bị pháo kích, máy bay của Air Vietnam không được bay nữa.  Tôi ở thêm trong phi trường một ngày chợ đợi, có lẽ là ngày 23 tháng 4, anh Thu bảo chờ một chuyến của hãng Pan Am đưa các nhân viên ngoại giao của toàn đại sứ Mỹ ra đi.  Anh ấy quen nhiều người trong phi trường, anh ấy nắm tay tôi chạy ra đường băng, anh bảo tôi bỏ lại tất cả hành lý, tôi chẳng mang theo gì cả, ngoài bộ đồ trên người và cái bóp, có 15 ngàn đồng tiền Việt, một cuốn sổ tay… tôi không có vé cho chuyến bay ấy… người ta cho tôi ngồi ở ghế gần toilet, nơi bật ra dành cho phi hành đoàn.  Chuyến bay đáp xuống Singapore.  Khi vào đến hải quan, họ đưa tôi vào tù vì cái Diplomatic Passport của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không còn giá trị vì ông Thiệu vừa từ chức và giải tán chính phủ của ông, thêm nữa, tôi không có entry visa, nên họ tống tôi vào tu…

Nhà tù này họ giam giữ đủ thành phần, buôn lậu, trôm cắp, đứng đường…  Tôi quá mệt mỏi, căng thẳng mấy ngày rồi, tôi không biết mình phải làm gì, đầu óc hoảng loạn, tôi ngồi đó nhưng không ngủ…  Sáng hôm sau họ cho xesp hàng đi vào toilet, khi đang xép hàng, tôi thấy có một anh lính cai tù đang đứng đọc báo, và tờ báo có tấm hình này đây (Kiều Chinh chỉ vào trang bìa là hình cô, tạp chí Female, phát hành tháng 4 năm 1975).  Tôi mừng quá, chạy đến nói tôi đây, đây hình của tôi, cho phép tôi gọi điện thoại ra ngoài, tôi muốn gọi cho tòa đại sứ, muốn gọi cho các bạn của tôi…  Nhưng đó là chức ảnh chụp khi tôi đang quay phim trường, còn người đàn bà cứ đang chỉ vào bức ảnh, tự nhận đó là mình là một người không phấn son, bơ phờ, lo âu,  nhìn không giống trong hình…  Anh lính khong tin, lườm tôi và không nói năng…  Cái hàng phải đi tiếp, tôi phải đi theo …  Khi vào bên trong toilet, tôi rửa mặt sạch se, tôi trở ra và tôi nói với anh lính:  “Đây là tôi, tôi đã đến Singapore đóng phim hai tuần trước, anh không tin hãy mở trang trong giữa ra, có bài viết về tôi”.  Anh ta mở ra xưm, bây giờ mới tin và cho tôi vào gọi hai cú điện thoại.  Tôi đã gọi cho tòa đại xứ VNCH, nói chuyện nói chuyện với ông Trương Bửu Điện xin ông giúp tôi.  Cú điện thoại thứ hai tôi gọi cho nam tài tử đóng vai chính cùng tôi trong phim Full House, nhờ anh giúp đỡ, nhưng chính quyền Singapore chỉ tôi ra khỏi tù 24 tiếng, rồi sau đó phải rời Singapore, nếu không thì họ sẽ tống cổ tôi về Việt Nam.  Chỉ có 24 tiếng tại ngoại, hãng phim đồng ý giúp tôi mua vé máy bay đến bất cứ nơi nào tôi được phép đến, còn ông Trương Bửu Điện đã đưa tôi đi tất cả các tòa đại sứ Singapore, xin cho tôi một visa nhập cảnh, đi bất cứ nơi đâu, miễn là rời Singapore và không về lại Việt Nam, nhưng ngay thời điểm ấy, không một nơi nào đồng ý cấp visa cho tôi cả.  Một tòa đại sứ khuyên tôi rằng Sài Gòn có thể thấp thủ bất cứ lúc nào, bay giờ cứ bay vòng quanh thế giới, khi nào Sài Gòn thất thủ thì tôi sẽ được phép xin tỵ nạn chính trị tại nước ấy.  Hãng phim đã giúp tôi có được chiếc vé đắt tiền ấy… và tôi đi từ Singapore đến Bangkok, qua Hong Kong, đến Đại Hàn, Nhật, Pháp qua đến Luân Đôn, rồi New York.  Từ New York tôi đã qua Canada, sau Canada sẽ về lại Châu Áu là Ý…  Khi máy bay ngừng, tôi chỉ được chờ ở trong phi trường chứ không được đi ra ngoài vì không có visa nhập carcura những nơi ấy.  Từ Nhật tôi có liên lạc được chị ruột tôi ở Pháp, tôi hy vọng mình sẽ được ở lại Pháp, nhưng khi đến nơi, tôi cũng không được vào, hai chị em chỉ nhìn thấy nhau qua tấm kính, nước mắt chảy ròng…  Chiếc máy bay đáp xuống phi trường Peason của Toronto và chiều ngày 30 tháng 4, 1975.  Tôi chính thức trở thành người Việt Nam đầu tiên xin tỵ nạn tại Canada.

*Đó cũng là lý do mà năm 2015, Kiều Chinh đã đến Canada trong một sự kiện cám ơn đất nước Canada đã công nhận ngày 30 tháng 4 là Ngày Đi Tìm Tự Do (Journey To Freedom Day).  Sau khi cô được nhận làm người tỵ nạn, cô quay trở lại với điện ảnh tại Hollywood, nhưng mọi việc đâu phải thuận lợi như ở quê nhà phải không cô?

Kiều Chinh:  Khi đến đây, chinh phủ cho tôi $75 CAD và khuyến khích tôi đi xin việc.  Học hỏi tôi nghề nghiệp chuyên môn, tôi nói tôi đóng phim, bà ta nghiêm mặt nói ở đây không có truyển diễn viên điện ảnh.  Bà ta chỉ tôi ra tấm bảng, nơi có gắn những miếng giấy nhỏ khi các công việc đang cần…  Những công việc khác đều đã có người xin rồi, chỉ còn một công việc là hốt phân gà là chưa ai xin, vậy lf tôi xin, lương tối thiểu là $2.15/giờ.  Tôi phải dậy từ 4 giờ sáng để đi làm vì gà dậy sớm lắm…  Sau đó tôi cố gắng gọi cho những người bạn đã từng đóng phim chung với tôi hoặc tôi đã gặp khi học đến Sài Gòn hoặc cùng tham dự các film festivals.  Tôi gọi anh Burt Reynolds nhưng thư ký không cho gặp, tôi gọi cho Glen Ford cũng gioosnh như vậy, tôi gọi cho William Holden nhưng được biết anh ấy đi săn ở ngoài nước Mỹ cả tháng nữa mới về.  Số tiền còn lại ít ỏi, tôi gọi cho bà Tippi Hedren là người tôi chỉ gặp trước đó 10 năm khi bà đến Việt Nam và lên talkshow chương trình tiếng Anh của tôi.  Tôi hoàn toàn không hy vọng bà ta sẽ nhớ ra mình.  Khi ấy chính bà ta trả lời phone, tôi vừa nghe giọng bà thì tôi đã òa ra khóc, tôi nói tôi là Kiều Chinh đây, mình đã gặp nhau, tôi vừa thoát khỏi Việt Nam… tôi cứ nói như một người me dại… bà ta nói tôi hãy nói chậm lại, rằng bó rất lo khi nghe tin Sài Gòn thất thủ và không biết tôi còn sống hay chết, bà hỏi tôi đang ở đâu.  Tôi nói đây là số điện thoại công cộng đây, bà gọi lại dùm tôi, tôi hết  tiền để bỏ vào máy rồi…  Khi bà gọi lại, tôi mới kể lại đầu đuôi và nói rằng muốn đến Mỹ.  Bà nói với tôi:  “Không được khóc nữa, tôi sẽ lo mọi việc”, nhưng câu chữ này quý giá với tôi vô cùng trong thời gian ấy.  Không ai nói với mình những câu ấy cả…  Hai ngày sau bà gởi qua bưu điện cho tôi một thư mới và vé máy bay đến Mỹ để khánh thành một trại tỵ nạn dành cho mấy ngàn người Việt Nam tại Sacramento.  Đây là lý do để tôi có thể xin visa vào Mỹ.  Sau đó tôi đã phụ bà Tippi Hedren điều hành trại tỵ nạn, sau đó bà đã giúp tôi ở lại làm việc chính thức tại Mỹ.  Tôi ở nhà của bà, tôi mặc quần áo của bà.  Khi ấy ông William Holden cũng vừa đi săn trở về, nghe tin tôi đến Mỹ đã gởi một lẳng hoa hồng đến chúc tôi đến được Hoa Kỳ.  Và rồi ông William Holden và bà Tippie Hedren đã giúp tôi quay trở lại với ngành điển ảnh, sẵn sàng giới thiệu cho tôi tham gia vào nghiệp đoàn ảnh, cũng như tìm cho tôi một agency lớn.  Vai trò đầu tiên tôi đóng ở Mỹ là một vai trò trong M*A*S*H, sau đó thì báo chí ở Hoa Kỳ bắt đầu viết về tôi, nhưng buổi thứ vai tôi đến nhiều hơn, có những vai trò lớn nhỏ, qua hơn 100 bộ phim tính cho đến hôm nay.  Những vai trò ấy cũng không lớn lao vì Hollywood không có nhiều vai dành cho người Châu Á.  Nếu một vai nhỏ mà bộ phim cần thì cũng rất khó đến tay mình vì quá nhiều người xin thử vai và họ đều nói tiếng Anh rất giỏi, có người sinh đẻ tại đây.  Có nhiều vai nhỏ, chỉ nói vài câu, nhưng mìnhđành phải nhận vì dù sao cũng đã quá may mắn khi được chọn trong nhiều người đến thử vai.

*Cô Kiều Chinh rất khiêm tốn khi nói về mình, njuwng Tôn Thất Hùng biết cô đã đóng vai chính nhiều phim như The Letter The Children of An Lac, Hamburger Hills, Face, Vietnam Texas, The Girl Who Spelled Freedom, Cat Fish in Black Bean Sauce, Riot, The Joy Luck Club…

Kiều Chinh:  Oh, mỗi phim là một kỷ niệm, tôi đến với The Luck Club thật tình cờ, tôi không dự định đến thử vai, chỉ là phụ cho phim Heaven and Earth tìm kiếm các vai (casting) mà thôi, vậy mà bên kia trong cũng một  building lại có một casting khac cho phim Joy Luck Club và người ta lại nắm tay tôi kéo vào để ngồi nói chuyện vơi đạo diên Wayne Wang và tác giả cuốn tiểu thuyết là bà Amy Tan.  Tôi không chuẩn bị gì cả, nhưng họ đưa cho tôi kịch bản, bảo về nhà đọc rồi trở lại cho biết thích trò nào.  Hôm sau tôi trở lại, họ không làm audition như bình thường mà chỉ hỏi tôi rằng nếu cho tôi lựa chọn, tôi muốn chọn vài bà mẹ nào?  Tôi trả lời là tôi thấy có tôi trong mỗi bà mẹ, nhưng nếu cho tôi lựa chọn thì tôi sẽ chọn bà Suyuan, có cảnh bà phải bỏ hai đứa con lại ở gốc cây bên đường làm cho tôi xúc động.  Tôi cũng là đứa con bị bỏ rơi trong chiến tranh và đó là nỗi ám anh suốt cuộc đời của tôi, tôi thấy vai Suyuan là hợp với tôi nhất.  Ông Wang đã nói khi ông ta nhìn thấy tôi, ông cũng đã nghĩ như vậy…  Tôi không phải diễn thử, không phải đọc gì cả.  The Joy Luck Clucb là một cuốn phim rất thành công phát hành, hãng phim Disney đã gởi tôi đi nhiều hội điện ảnh, qua đến bên Pháp vì tôi nói được tiếng Pháp, và sau đó cũng có đi dại hội điện ảnh bên Brazil.  Tôi được may mắn vì nhờ phim này, tôi được biết đến nhiều hơn.  Khi phim qua đến Ý, trong đã có 5 giải thưởng dành cho các vai trò về Người Mẹ nổi tiếng nhất thế giới.  Từ Mỹ có 2 người dược giải đó là Shirley Maclean và Kiều Chinh.  Tờ báo Peole cũng  đã cho độc giả bầu chọn 50 cuốn phim lấy nước mắt của khán giả nhiều nhất thì The Joy Luck Club được cọn đứng thứ 22 với Kiều Chinh.  Đó là những gì mà Tôn Thất Hùng muốn tìm hiểu về Kiều Chinh, một phụ nữ sáng đến Mỹ khi đã quá nữa đời người, tiếng Anh không phải tiếng mje để, thua kém nhiều người khác.

Bây giờ 60 năm tham gia điện ảnh, nhìn lại thì tôi cảm thấy vô cùng biết ơn nhưng đạo diễn, những nhà sản xuất, những chuyên viên ky thuật luôn âm thầm đứng đàng sau ống kính để cùng tôi đưa tác phẩm trở thành nghệ thuật.  Tôi rất biết ơn nhưng người bạn ấy mà nếu không có họ thì không có Kiều Chinh.

*Xin chân thành cám ơn nữ minh tinh điển ảnh Kiều Chinh, với sức khỏe còn rất còn rất dồi dào, một tinh thần rất vui vẻ, yêu đời, chắc chắn cô Kiều Chinh sẽ không dừng lại sự nghiệp ở con số 60 năm mà sẽ còn tiếp tục đi nữa.  Cô có nhưng dự tính gì cho thời gian sắp tới?

Kiều Chinh:  Năm 2006, tôi đống vai một bà mẹ trong phim Journey From The Fall, tức Vượt Sóng.  Đạo diễn là Trần Hàm.  Bộ phim đã mang lại nhiều tiếng vang là đó là một tác phẩm lịch sử của người tỵ nạn Việt Nam.  Ngoài ra còn có những đạo diễn khác như Timothy bùi, Tony bùi, Dustin Nguyễn, Trần Anh Hùng,  Victor Vũ, Johnny Tri Nguyễn, Carlie Nguyễn… nhiều nhiều lắm, đó là những người Việt Nam trẻ của điện ảnh trong tương lai.  Hãy nhìn vào họ, chứ đừng nhìn vào tôi nữa.

*Xin kính chúc nghệ sĩ Kiều Chinh những ngày tháng sắp tới vẫn luôn dồi dào sức khỏe, luôn nhìn cuộc đời thật tích cực, luôn hết lòng tử tế tuyệt đối với điện ảnh như bà vẫn như thế bao nhiêu năm nay, cũng như rất sẵn sàng khuyến khích và hỗ trợ cho các thế hệ trẽ sau này…