Saturday, December 16th, 2017 3:20:25 pm

P L Design |  Lam T. Vo

Bài Viết về Ma Ở Chinatown

MA Ở CHINATOWN
(Tôn Thất Hùng tự truyện, một trong những bài viết đầu tiên nên lời văn ngày ấy còn đơn sơ lắm, đã được đài radio thâu vào chương trình truyện ma đêm khuya)

Chuyện xảy ra với tôi cũng đã rất lâu. Một số bạn bè của tôi cũng biết chuyện, riêng tôi, khi ngồi viết lại những gì xảy ra trong những ngày tháng ấy, vẫn còn thấy như mới hôm qua. Ma ở đây không phải xuất hiện trên đường phố Chinatown mà đã từng hiện hữu trong một căn nhà cũ kỹ lâu năm, nằm ở khu vực phố Tàu Toronto mà người Việt tại đây hay gọi là phố Tàu tây hoặc phố Tàu Spadina.

Ngày ấy, tôi là một đứa học trò côi cút vừa qua tuổi teenager. Sau vài năm tỵ nạn, vừa đi học vừa đi làm, tôi xong high school. Không người thân bên cạnh vì tôi đến Canada theo diện nhân đạo do chính phủ bảo trợ. Trường đại học mà tôi được nhận nằm ngay khu downtown nên tôi phải lần mò đi tìm nhà cho tiện đường xe bus đi học. Với số tiền vay từ quỹ OSAP của chính phủ ít ỏi, tôi rất lo vì lên đại học có quá nhiều chi phí, cá nhân tôi thì không có thân nhân ở đây để mong vào những khỏang “trợ cấp”. Một anh bạn vừa cho biết chỗ thuê nhà giá rẻ. Tôi đến gõ cửa một căn nhà nằm ngay khu vực Chinatown, đi bộ chỉ khỏang 5 phút là gặp siêu thị, nhà hàng, xe bus… Ra mở cửa cho tôi là một bà người Hoa khỏang trên 60 tuổi. Bà cho biết basement của bà hiện đang trống, tôi có thể xử dụng riêng biệt nhà bếp, phòng tắm, lối đi riêng và dĩ nhiên là phòng ngủ cũng riêng biệt, tất cả chỉ có $320 một tháng, bao luôn điện, nước. Tôi nghe mà mừng như vớ được vàng. Với số tiền vay ít ỏi từ chính phủ dành cho sinh viên, tôi không thể mong gì hơn. Đây là giá thuê nhà quá rẻ ngay tại trung tâm thành phố và rất thuận tiện cho việc học, tôi liền đặt cọc tiền, hẹn tuần sau sẽ dọn vào.

Đêm đầu tiên, vì trong ngày phải khuân vác những sách vở, bàn, ghế, giường, tủ…suốt một buổi với sự giúp đỡ của bạn bè (những món đồ đơn giản có được do chính phủ cho khi vừa đến định cư), tôi mệt quá, ngủ thiếp đi. Nằm trên giường, tôi cảm thấy vui vì có được chỗ ở khá tươm tất so với hòan cảnh của một sinh viên nghèo tứ cố vô thân. Trong cơn ngủ say, tôi nghe loáng thoáng những âm thanh của nhà bếp ngay sát trên lầu, bên trên phòng, tôi nghe như tiếng nồi chảo bát đũa đụng vào nhau. Tôi làu bàu sao bà chủ nhà nấu ăn khuya, tuy nhiên vẫn tiếp tục chìm sâu vào giấc ngủ say cho đến sáng…

Cảm thấy mình đã bị trễ hai năm so với những người trẻ cùng trang lứa vì thời gian ở trại tị nạn, tôi đã lên chương trình cho mình rút ngắn thời gian học và cố làm sao bước vào đời càng sớm càng tốt. Thời khóa biểu học của tôi lúc ấy khá căng thẳng vì tôi đã lấy courses học của cả hai trường một đại học và một community college cùng một lúc. Tôi đi học cả ban ngày lẫn ban đêm. Đi học về nấu ăn qua quít, ngồi vào bàn học thì đã gần nửa khuya. Đọc bài, làm bài xong thì gần 2 giờ sáng. Với tuổi thanh niên trẻ trung, đơn giản, tôi nằm xuống là ngủ như chết. Khi nào tôi cũng có cảm giác ngủ không đủ vì một ngày chỉ ngủ được khỏang sáu tiếng mà thôi. Bà chủ nhà vẫn hay nấu ăn khuya khi tôi vừa chợp mắt, nhưng tôi đã bắt đầu quen với những tiếng động của nhà bếp, vẫn ngủ những giấc ngủ thật say mặc dù có khi tiếng va chạm bát dĩa thật ồn như muốn xoáy vào lỗ tai tôi, âm thanh có những lúc như muốn đánh thức tôi dậy, cho dù khi ấy có thể là 3 giờ sáng.

Tháng đầu tiên qua đi thật nhanh, tôi quen dần với âm thanh nấu ăn khuya của bà chủ nhà. Cuối tháng tôi lên gõ cửa đưa tiền nhà, bà mở cửa và mời tôi vào chơi trong lúc bà ta đi tìm cuốn sổ để ký biên nhận. Tôi nhìn quanh, bỗng nhiên gai ốc tôi nổi khắp người. Tôi đang đứng ở nhà bếp của bà chủ nhà, căn bếp không gần căn phòng tôi ở, không, phải nói là rất xa vì căn nhà có chiều dài khá sâu, nếu nhà bếp này có người đang nấu ăn, nhất định những âm thanh không thể nào nghe như sát bên vách, ngay trên đầu tôi như những âm thanh tôi vẫn thường nghe chập chờn trong giấc ngủ. Vậy thì âm thanh mà hằng đêm vẫn xoáy vào tai, nghe như sát vách phòng của tôi, xuất phát từ đâu??? Miên man suy nghĩ thì bà chủ nhà đã đến và đưa cho tôi biên lai. Tôi nhận biên lai từ bà chủ nhà và hỏi xem ngay sát phía trên phòng tôi là ai đang ở, bà cho biết căn phòng để trống và khi nào có khách đến chơi, khách sẽ xử dụng căn phòng đó. Tôi nhíu mày, khó hiểu, đi xuống.

Với tâm trạng đang “làm chủ” căn basement apartment, tôi hoàn toàn chủ động và không hề cảm thấy một chút nào bất an hay sợ hãi. Nhưng từ sâu thẳm trong nhận thức, tôi đã thấy có một cái gì không bình thường. Một buổi sáng sớm khi còn đang ngủ, tôi giật mình vì tiếng chuông điện thọai. Tôi quơ tay xuống giường tìm cái điện thọai, mắt vẫn nhắm, bên đầu giây bên kia là một sự im lặng…im lặng như không… Tôi bỗng tỉnh ngủ hẳn, chợt nhớ ra tối hôm trước tôi đã rút dây phone ra khỏi ổ cắm vì không muốn bị quấy rầy trong giấc ngủ. Tôi mở mắt nhìn qua cái cửa sổ nhỏ xíu trong phòng, bên ngòai trời vẫn còn tối hù, xa thật xa là ngọn đèn đường rất yếu vàng vọt…gió thổi vào căn phòng nhè nhẹ nhưng rất lạnh, lay khẽ những tấm sáo cửa. Đồng hồ chỉ sáu giờ sáng. Tôi bỗng nhiên có một cảm giác rất lạ chưa bao giờ có trước đây. Cảm giác hình như đang có một ai đó đang hiện diện trong căn phòng. Tôi vẫn nằm bất động trên giường, cố gắng chiêm nghiệm xem cảm giác này của tôi có thật hay không, cái gì đang xảy ra quanh tôi. Thính giác và khứu giác của tôi đang “up and on” rất mạnh, xem có gì lạ xung quanh hay không. Mắt tôi cũng mở lớn trong bóng tối….chỉ là một sự im lặng, không có gì xảy ra hết ngoài sự cảm nhận của giác quan thứ sáu cho biết một “ai đó” đang hiện hữu. Không biết tại sao lúc đó tôi lại bỗng nhiên phì cười. Vào thời điểm ấy, Thời Báo Toronto đang đăng truyện dài “Liêu Trai Chí Dị”, tôi có đọc những truyện ấy và chợt nghĩ, không lẽ….

Những buổi tối tiếp theo đó là những sự việc không bình thường chút nào. Hình như “ai đó” muốn cho tôi biết sự hiện hữu của họ. Có khi tôi đang đứng soi gương thì có tiếng gõ cửa phòng, lúc ấy tôi đứng ngay sát cạnh cánh cửa. Chỉ trong khoảng hai giây đồng hồ, tôi với tay mở cửa nhìn ra để chẳng thấy một ai. Cũng cần nói thêm, bên ngòai căn phòng là nhà bếp, nếu như ai đó muốn vào phòng đều phải đi ngang qua căn bếp riêng biệt mà tôi xử dụng. Bên ngoài nhà bếp hoàn toàn không có một ai. Nhà bếp và hành lang dài hun hút…Chuyện gõ cửa như vậy lập đi lập lại vài lần rồi ngưng hẳn. Có nhiều lúc nửa đêm, tôi nghe tiếng nước chảy, chạy ra xem, khi thì vòi sen đang xồ nước ào ào trong phòng tắm, khi thì vòi nước nơi cái sink rửa chén đang chảy mạnh hết cỡ….

Trong một buổi tối, sau khi ăn cơm xong, tôi nói chuyện điện thọai với một người bạn. Tôi kể cho anh ta nghe những gì đang xảy ra một cách không bình thường tại căn basement tôi đang ở. Anh ta hỏi tôi có nghĩ đó là ma không? Tôi chỉ cười, trả lời là tôi vẫn tin lời mẹ tôi là ma không hại người hiền. Tôi cũng không quên đùa lại là sống chung với ma, biết đâu con ma ấy sẽ giúp cho tôi trúng số không chừng. Trò chuyện với anh ta một lát, tôi gát máy ngồi vào học bài và đi ngủ. Tôi chìm vào giấc ngủ thật dễ dàng sau một ngày quá mệt mỏi và căng thẳng. Tôi ngủ thật say cho đến gần sáng, khi gần tỉnh giấc, bỗng tôi thấy một bóng đen đứng ở cuối giường, lập đi lập lại một câu nói: “Ghi vô, ghi vô, 20 tháng Sáu, 20 tháng 7”. Tôi vẫn nằm im vì lúc ấy tôi chưa ra khỏi cơn ngủ mê, bóng đen vẫn tiếp tục nói cho đến khi tôi chịu không nổi, vùng ngồi dậy. Khi tôi ngồi lên, đồng hồ chỉ sáu giờ sáng, bằng giờ đêm hôm trước khi điện thọai reng. Tôi nhìn qua bàn giấy nhỏ ngay đầu giường xem có sẵn giấy viết để ghi lại những gì nghe được trong cơn nửa tỉnh nửa mê vừa mới xảy ra. Trên bàn không có sẵn giấy viết, tôi cũng không quan trọng chuyện này, nên thôi. Lúc ấy thấy cũng còn sớm nên tôi nằm xuống ngủ tiếp cho đến 8 giờ và không bị đánh thức hay phá phách nữa.

Sáng hôm sau tôi thức dậy, mang backpack lên vai, đón streetcar đến trường. Khi vào bên trong trạm subway, khi đi ngang qua quầy bán vé số, tôi chợt nhớ đến câu nói đùa của mình với người bạn đêm hôm trước về chuyện nếu có ma, biết đâu con ma sẽ giúp tôi trúng số. Tôi cũng nhớ lại những con số mà tôi nghe như rất thật và rõ trong tình trạng nửa mê, nửa tỉnh. Mặc dù không có thói cờ bạc, nhưng tôi thấy có cái gì đó nối kết nhau trong những sự kiện đã xảy ra, tôi liền dừng lại quầy bán vé số và mua hai hàng 6/49. Khi chọn số, tôi nhớ đến câu nói đã nghe vào đêm hôm trước “Ghi vô, ghi vô, 20 tháng Sáu, 20 tháng 7”, tôi liền chọn sáu số và trong đó có 20, 6 và 7. Mua vé xong tôi nhanh chân chạy cho kịp chuyến xe điện subway đến trường và cũng quên luôn về tấm vé số ấy.

Bẵng đi cả tuần sau, trong một lần tình cờ ngồi ăn ở một quán cơm bình dân với bạn bè, khi móc bóp lấy tiền thì thấy tấm vé số chưa được dò. Tôi liền đứng lên nhờ máy dò thử, kỳ diệu thay, tiếng nhạc véo von cất lên từ máy dò số và kết quả cho ra đúng 3 con số 6-7-20 là ba con số tôi chọn, 3 số còn lại không trúng vì tôi chọn một cách ngẫu nhiên. Tiền trúng số chỉ có mười đồng và tôi dùng tiền đó phụ thêm vào khao đám bạn chầu cơm bình dân fastfood tại Chinatown hôm ấy. Khi ra về tôi cứ băn khoăn và thắc mắc, không biết một sự trùng hợp hay đây là một sự “dằn mặt” cho tôi biết “người ta” đang ở ngay trong nhà tôi. Tôi thật sự hơi bấn lọan và cảm thấy khó xử. Không lẽ những chuyện ma quỷ trên đời mà tôi thường nghe, thường đọc qua truyện, qua sách báo lại có thật ngoài đời mà lại đang xảy ra với tôi. Mà “người dấu mặt” kia là ai, và họ muốn gì ở tôi? Thật sự là từ khi tôi dọn vào đến lúc này đã hơn một tháng, nhưng tôi chưa hề bị ma nhát. Những sự kiện bất thường đã xảy ra cũng rất nhẹ nhàng và chậm chạp. Với bản tính “don’t care”, tôi đã không hề có một chút sợ hãi, nhất là vào ban đêm khuya vắng. Có lúc ngồi học bài một mình, tôi vẫn hay nghe tiếng bước chân nhẹ nhẹ bên ngoài nhà bếp, âm thanh nghe rất khẽ của một đôi chân trần không mang dép bước đi nghe xạt xạt nhẹ nhàng trên sàn gỗ, hoặc có khi nắm đấm cửa bị xoay nhẹ và cửa phòng bỗng mở toang cho dù không có gió. Những lúc như vậy, tôi vẫn “don’t care”, bước tới đóng sập cửa lại, cúi xuống cuốn sách học tiếp. Có lẽ vì những căng thẳng của chương trình học, những chật vật của một sinh viên nghèo, những lo toan cho cuộc sống nên tôi không lấy đó làm điều chú ý và quan trọng, cũng như không cần để ý “ai đó” muốn gì ở tôi. Những người cũng thuê phòng trong căn nhà đó cho tôi biết thêm vài chi tiết thú vị. Rất nhiều người đã dọn vào căn basement giá cả thật phải chăng đó, nhưng sau một thời gian ngắn, tất cả đều ra đi vì nhiều lý do. Còn tôi, họ cũng chờ đợi xem bao giờ đến lượt tôi sẽ phải cuốn gói…. bỏ chạy.

Tôi kể chuyện “ma” của tôi cho vài người bạn thân, rồi những người bạn này lại kể lại tiếp bạn bè của họ. Một hôm chị bạn điện thọai kể cho tôi biết là bạn chị ta trong cộng đồng người Hoa, khi nghe chuyện đã nói căn basement tôi đang ở hình như đã từng xảy ra vụ tự tử của một thiếu nữ người Hoa bị hãm hiếp khoảng trên mười năm về trước. Chị bạn còn nói tôi có thể tìm những người biết chuyện để kiểm chứng hoặc xác minh. Tôi nghe qua chỉ cười, thật sự tôi không hề có một chút sợ hãi khi sống ở đó và cũng không muốn mất thời gian vì những chuyện như vậy. Cuộc sống của tôi còn nhiều chuyện phải lo toan hơn.

Tôi có điện thọai kể cho mẹ tôi ở California nghe, mẹ tôi khuyên tôi bằng một câu cố hữu của các cụ ở Việt Nam ngày xưa: “Có cúng, có kiêng, có cử, có lành”. Mẹ tôi khuyên tôi phải cúng vì có thể đây là một hồn ma bơ vơ, muốn tôi phải chú ý nên đã làm ra những sự kiện như vậy. Hồi nào đến giờ tôi làm gì biết cúng kiến ra sao đâu, nhưng câu chuyện của chi bạn kể lại, tuy không biết có đúng hay không, nhưng đã làm tôi mủi lòng. Tôi vẫn tin là ma không hại người hiền. Con người, những người tôi gặp ở nơi đi làm part time sau giờ học, họ hay bắt nạt những đứa học sinh, bóc lột sức lao động và trả lương rẻ mạt dưới mức luật pháp quy định thì chắc chắn là nguy hiểm và ác ôn hơn con ma nhiều.

Thời gian vẫn trôi qua đều đặng. Tôi bắt đầu từ từ tin là không chỉ có riêng mình tôi đang ở trong căn basement đó, mà có thể có thêm một “ai đó” đang hiện hữu. Giác quan thứ sáu đã mách bảo tôi và tôi đã từ từ tin là có ma, nhưng không hiểu sao tôi lại không hề sợ hãi. Có lẽ lúc ấy tôi phải vừa học vừa làm cực quá. Khi tập tành bước vào đời qua công việc part time thì tôi đã sáng mắt khi thấy được cuộc đời không như trang sách trong nhà trường và không hề có màu hồng. Những lần vấp ngã vì bị người đời đâm sau lưng, đi thực tập cũng gặp cảnh ma mới bắt nạt ma cũ, bài vở thì quá nhiều… tất cả các yếu tố đã làm tinh thần tôi chai lì và một bản năng tự vệ trước mọi tình huống….

Tôi vẫn nhớ lời mẹ tôi là nên cúng, nhưng cúng cái gì? Đời tôi chưa hề biết cúng kiến ai. Tuy vậy, tôi cũng cố gắng làm theo mẹ tôi dặn. Mỗi lần nấu cơm ăn, khi nào tôi cũng bới một chén cơm và một đĩa nhỏ đồ ăn để trên nóc tủ lạnh, cắm một cây nhang. Tôi cũng tức cười về cách bày biện của mình như vậy, trông có vẻ mê tín và nhà quê. Đôi khi tôi đi ăn bên ngoài, về nhà không nấu cơm nữa, tôi rót một ly nước lạnh, cười cười, nói: “Honey ơi, hôm nay hổng có nấu ăn, thôi uống đỡ một ly nước lạnh nghen!”. Khi có gì ăn, lúc nào tôi cũng chia đôi, tôi một nửa, “người kia” một nửa. Có những lần tôi kể chuyện ma của tôi cho bạn bè nghe qua điện thọai, lần nào tôi cũng gặp những dấu hiệu như là một sự bất bình, không muốn tôi tiếp tục nhiều chuyện. Các hiện tượng như bức tranh treo tường bỗng nhiên bị sút đinh, rơi xuống; giá để thơ cũng tự nhiên rơi xuống làm văng tung tóe những thư từ, có khi là bình hoa bỗng ngã lăn kềnh trước mắt tôi. Từ từ tôi cũng đoán được ý của “ai đó” qua những gì xảy ra. Tôi biết “ai đó” thích gì và không thích gì ngay sau lời nói của tôi. Có khi dường như tôi nhận được những tín hiệu thật “silent”, thật khẽ như một tầng sóng. Dường như tôi có thể biết được “ai đó” vừa ý hay không. Khi quá mệt mỏi với trường học và trường đời, tôi về nhà vừa nấu mì gói ăn, vừa chia xẻ với “ai đó” trong ý nghĩ. Khi nào tôi cũng kết thúc một câu là tôi cần được chia xẻ, cần thêm nghị lực để vượt qua. Với lứa tuổi mới ngoài hai mươi, đầu óc tôi luôn luôn khôi hài, có pha một chút lãng mạn và một chút ảnh hưởng bởi những chuyện ma từng đọc qua. Bài vở của tôi trong trường quá nhiều, đi làm part time thì cũng quá cực, trong tình người bạc bẽo, cô đơn không một ai thân thích, ý nghĩ có một “ai đó” đang “share” chỗ ở với mình làm cho tôi cảm thấy ấm áp trong lòng, đôi lúc tôi tưởng mình sẽ buông xuôi hết, không học, không cố gắng nữa, bỏ đi làm hãng cho xong, nhưng khi trở về nhà, tôi cảm thấy vui vui khi được chia xẻ những khó khăn, mặc dù chỉ trong tư tưởng. Và tôi đã sống trong một đoạn đời và cảm giác hư hư thực thực ấy trong suốt gần năm năm. Năm năm đủ để tôi trang bị cho mình một hành trang bước lên và bước tới trong xã hội.

Sau khi tôi ra trường, có việc làm ổn định, tôi mua một căn condo gần nơi làm việc và dọn ra. Khi ra đi, bỗng nhiên tôi cảm thấy có gì đó bịn rịn, vấn vương. Một cảm giác thật khó diễn tả. Cái ly gạo vẫn dùng làm nơi cắm nhang, tôi đã để lại trên nóc tủ lạnh. Khi người ta đến khiên đồ đạc của tôi ra xe, tôi một mình quay trở lại khóa cửa, nhìn quanh căn phòng, nơi tôi đã sống, đã học trong từng ấy năm, góc nào, xó nào cũng đầy ắp kỷ niệm. Bước ra nhà bếp, tôi cũng nhìn quanh, muốn ngỏ một lời từ biệt với…hư không. Nguyên căn basement lúc này là một sự im lặng, trống không và lạnh lẽo thật buồn. Tôi không biết “ai đó” đang hiện diện ở nơi đâu, có đang đứng nơi góc phòng hay tựa lưng vào chái bếp. Tôi đứng tần ngần, bùi ngùi và một chút nghẹn ngào đã làm mắt tôi ươn ướt. Từ giã cái basement nhỏ bé với nhiều kỷ niệm âm-dương hỗn hợp, từ giã căn phòng thân quen trong suốt quãng đời của một sinh viên nghèo…

Khi tôi vào căn condo vừa mới xây xong, tôi không còn cảm giác có “ai đó” quanh quẩn gần tôi. Các hiện tượng khác thường cũng không hề xảy ra. Tôi cố lắng nghe những giác quan của mình, nhất là giác quan thứ sáu xem có những “feeling” như ngày xưa không, hoàn toàn không. Tôi biết “ai đó” đã ở lại nơi căn hộ chật hẹp, cũ kỹ và khiêm tốn tại phố Tàu…

Mới đây tôi nghe nói bà chủ nhà khi xưa, giờ đây đã khá già, bà ta đã bán căn nhà ấy và dọn về ở với con cái. Tôi không biết rồi ai sẽ vào ở nơi căn phòng tôi ở lúc xưa. Không biết “ai đó” có tìm được sự đồng cảm với người mới hay không? Cho đến hôm nay, tôi vẫn tin người sống luôn luôn chủ động trong mọi hoàn cảnh, có nhiều khả năng làm thay đổi môi trường, thay đổi tình thế hơn người chết. Người sống khi nào cũng đáng sợ và làm tôi cảnh giác hơn so với người chết. Con người khi chết đi, nếu thật sự có linh hồn, tôi nghĩ họ rất hiền lành và cũng không có khả năng hại người sống, họ hoàn toàn thụ động trong tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống của chúng ta