Monday, December 11th, 2017 5:49:30 pm

P L Design |  Lam T. Vo

Chương 1 – Lạc Đường

Khúc-Dõng tốt-nghiệp trung-học Huế vào tháng sáu năm 1933.  Mùa ngâu và gió Lào bắt đầu, báo hiệu một mùa hạ oi bức của miền Trung Việt-nam.  Thời tiết hè sang tại đây gần như khắc nghiệt:  “Ai xui con cút gọi vào hè, cái nóng nung người nóng nóng ghê…”.  Hai hàng phượng thẳng trong sân trường Quốc Học Huế trĩu hoa như những đĩa xôi màu máu.  Tiếng ve đồng ca réo rắt như tiễn chào một thế hệ sắp sang xong…  Xong đời học trò, thế hệ măng non kia sẽ đi về đâu?

Giáo sư Sử học (bị đuổi ba năm về trước) và bà Khúc-Thưa, phụ mẫu Khúc-Dõng đều có mặt trong buổi lễ tốt-nghiệp này.  Khúc-Dõng cao, gầy với khuôn mặt tuấn-tú pha lẫn vài nét nhiêm-nghị hiếm thấy trong lứa tuổi mười chín.  Dõng đậu tủ-khoa trong khóa tú-tài năm ấy.  Chàng thư-sinh họ Khúc được đại-diện bốn mươi tám khóa-sinh tốt nghiệp lên phát-biểu cam-tượng.  Cậu Khúc-Dõng không có một chuẩn-bị viết sẵn.  Mảnh bằng tú-tài cuốn tròn Dõng vừa nhận cầm ở tay phải, chàng thiếu niên bước lên bục.  Với giọng nói trong sáng, ấm và nghiêm-trang:

“Tôi vinh hạnh được đại-diện các bạn đồng-khóa vừa tốt-nghiệp, xin có vài ý-kiến nghè.  Xin cám-ơn quí thầy đã dạy-dỗ chúng con.  Xin cám ơn các cô, chú đã săn sóc chúng con suốt sáu năm dài.  Kính mến cảm ơn giới phụ-mẫu đã cưu-mang chúng con lớn lên từ vú mẹ và lòng nhân đức của con người.  Giờ đây, các thầy, các cô, và đấng cha mẹ vẫn còn trách-nhiệm với bầy “chim non” này.  Hoa phượng và loài ve mùa hạ trên khắp giải đất đau thương này, đang tiễn biệt bày”sparrow” tung cánh.  Chúng con muốn sống như những cánh chim trời.  Mai kia, cánh chim trời ấy vẫn hướng về những ai đã tạo lông, chắp cánh cho chúng.  Dòng sữa mẹ không phải thứ nước đã không tên… chúng con rời trường nhưng vẫn hướng về ngôi trường yêu dấu của một Huế thăng trầm.  Thuở hoàng kim hôm qua sẽ đi vào dĩ vãng.  Dĩ vãng đã trào cho thế hệ hôm nay cả một núi Ngự-Bình dòng sông Hương triền miên.  Nếu lịch-sử Việt-nam là bất diệt, thì thế hệ bắt đầu từ hôm nay sẽ tiếp-tục sự-nghiệp lịch-sử ấy!

Chúng tôi rời trường với lời hứa danh dự ấy.  Vua Bảo Đại đang hiện diện bên trong cửa Ngọ-môn.  Ngài có thể là nhân chứng cuối cùng của nền quân-chủ Việt-nam.  Đại diện của ngài và cùng lúc với đại diện tòa Khâm-sứ Pháp đều có mặt hôm nay.  Chúng tôi kính chào tiễn biệt triều đình nhà Nguyễn và phủ Toàn-quền Pháp tại Đông-dương.  Chừng bầy, tám năm nữa quí vị sẽ chứng kiến cảnh “bãi biển nương dâu” mà quí vị chưa tiên liệu được hôm nay.  Xin cám ơn cử tọa lần nữa.”

Giáo-sư Khúc-Thừa đón-nhận lời phát-biểu của con trai mình như một phát súng bất ngờ.  Ông không ngờ cậu bé Dõng lại nhập tâm khuynh-hướng ông vào lời tâm sự của cậu ta trong lễ tốt-nghiệp hôm nay.  Đại diện triều-đình Bảo-Đại lần đại diện tòa Khâm-sứ hôm ấy thể hiện trên nét mặt họ sự ngạc nhiên và niềm ưu tư.  Đại diện tòa Khâm vừa vỗ tay vừa quay sang viên Thừa tướng đại-diện Nam triều:  “Tôi không đoán được sự lỗi lạc và niềm suy tư sâu xa của người Việt quí quốc.  Là một học sinh tú tài, Dõng không cần một diễn-văn viết sẵn.  Hắn nói chân tình như con tim của hắn.  Hắn không phải loại “giặc cỏ” khiến chúng ta coi thường.  Quang thừa tướng nghĩ sao?”  Viên đại diện Nam triều hôm ấy là N.H.B., viên Thừa tướng trả lời:  “Tôi hiểu dân tộc tôi hơn người ngoài.  Cách đây sáu năm, Bắc kỳ có đảng Tân-Việt và phong trào Đông-Du.  Sau đó này sinh ra đảng Quốc-Dân, gọi là Việt-nam Quốc Dân Đảng.  Cách đây ba năm, tháng hai năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tùng Mậu thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương tại sân đá banh Mã Cao.  Xu hướng chính trị đều nhằm phản đế và phản phong.  Họ muốn làm những cuộc”cách mạng” như Cộng Hòa Pháp ở thế kỷ trước.  Cả nhà vua và tôi đều lo lắng.  Bây giờ chỉ còn cách tốt nhất là nên chuyển nhóm tú tài này vào lĩnh vực Khoa học Tự nhiên.  Nghĩa là họ sẽ bị lôi cuốn vào ngành khoa học, không đủ thời giờ để nghiên cứu về khoa học xã hội nữa.  Biện pháp này rất tạm bợ, chỉ đủ dài để chúng ta tìm giải pháp đối phó mà thôi.  Ai bảo rằng, một viên bác sĩ sẽ không làm chính trị?  Chúng tôi hoàn toàn không biết gia đình nhóm học-sinh tốt-nghiệp hôm nay có đủ tài-chánh để cho chúng học lên hay không!  Chính sách “Ngu dân” của chúng ta ít nhất đã chận đứng được một nguy cơ:  Nguy cơ kiến thức và nổi loạn”.

 Khúc-Thừa là giáo-sư Sử tại Quốc-Học Huế từ năm 1925.  Ông bị viên đốc-học Đông-dương người Pháp đuổi vì bài “giáo án” “Lịch-sử mất nước Việt-nam”.  Bà Khúc-Thừa là cháu gái cô cậu của nhà cách-mạng Trần cao Vân (Quảng-nam) trong phong trào Cách-mạng Duy-Tân.  Cô Thái Băng-Tâm tốt nghiệp cử-nhân Triết Tây tại Paris.  Cô bị đuổi vì anh ruột cô là Thái-Phiên tham dự phong-trào chống xâu tại Quảng-nam.  Cô ngưỡng-vọng nhà cách-mạng Phạm Châu Trinh, nhưng cô không tán thành tư-tưởng cải-lương của cụ Phan thời ấy.  Thân gái như một đời hoa và cô Tâm đi lấy chồng.  Cô yêu giáo sư Khúc-Thừa.  Họ sống với nhau trên bờ sông Thu-bồn.  Làng Bường-an nhỏ, khá xinh.  Bường-an đẹp như một cô gái dạy thì:  Dâu xanh, mía xanh, tằm ăn dâu để sinh ra nhộng, nhả tơ như cuộc tuần hoàn của hóa sinh, sinh hóa.  Tiếng tàu tốc hành rú vang khi vượt qua cầu sắt Kỳ-lam.  Tiếng mõ của anh Mõ, tiếng chèo khua nước đều đều của những chuyến dò khuya đỏ về Hội-an từ Dùi-chiêng, Tí sé, tiếng lau sậy xì xào…  Họ Khúc sinh ra đứa con đầu lòng đặt tên là Khúc-Dõng.  Ba năm sau, họ sinh tiếp một đứa con gái tên Khúc-Thái-An.  Chấp nhận cuộc sống im lặng của kẻ ẩn sĩ, Khúc-Thừa nuôi tằm và tạo được hai khung dệt Tít-xo, Lãnh Bảo-an và Thao.  Khúc-Dõng lớn lên với cơm ghế khoai lang khô, dưa cải chua và cá kho mặn.  Cuộc sống thanh đạm kia đã hun đúc tâm hồn Khúc-Dõng cả một trời mơ ước.  Giấc mơ phức tạp của hàng trai “Địa Linh hân Kiệt” thật nhiều, nhưng chàng không ôm ấp giác mộng vua quan.  “Vua quan mà làm gì khi cả một dân tộc Việt đang lầm than, đau thương?”

***

Ông bà Khúc-Thừa tham-dự buổi lễ tốt-nghiệp tại Quốc-Học Huế năm ấy hoàn toàn không cười.  Khi Khúc-Dõng nói chuyện xong bước xuống bục, các cô chú tốt nghiệp cùng khóa với Dõng cũng như cha mẹ họ ùa lên vây quanh Dõng với những lời ca ngợi, cười nói huyên thiên.  Ông bà Khúc-Thừa điềm đạm, lạnh lùng.  Họ chỉ xoa đầu Dõng rồi tiếp tục nét u hoài muôn thuở.  Ông bà nghĩ về một tương lai xa xôi cho Dõng và thế hệ mới Việt-nam.  Ông bà tìm cách chào thăm tất cả giáo sư, nhân viên phục vụ của trường.  Họ nói những lời cảm tạ chân thành trước khi cùng Dõng đáp chuyến xe lửa xuôi Nam cùng ngày.

Bà Khúc-Thừa hỏi Dõng:

– Bắt đầu từ hôm nay, con sẽ làm gì?

Dõng trả lời:

– Con chưa có gì để làm cả.  Ước mơ của con là được học lên.  Song tiếc thay gia đình mình quá nghèo.  Cha mẹ lo cho con chừng ấy đã quá sức rồi.  Ngoài kia, hàng triệu thanh thiếu niên Việt-nam đang mù chữ.  Họ đang làm nghề chăn trâu, kéo cày hoặc làm phu khuân vác dưới các bến tầu.  Thế hệ tiếp thế-hệ, Việt-nam có vẻ mãi mãi là quốc gia nô-lệ, một dân tộc nô lệ.  Việt-nam không thiếu tài nguyên và trí tuệ, song họ chưa có một lý tưởng soi đường…

Con tàu ì ạch, thở hồn hền trườn lên đèo Hải-vân.  Gió biển mang hơi nước phả vào con tàu khiến hành khách cảm thấy bớt oi bức.  Ông Khúc-Thừa đang chăm chú nghe hai mẹ con nói chuyện.  Câu chuyện của Khúc-Dõng càng lúc đi càng xa, ông ngắt lờ Dõng:

-Con  muốn học lên, nhưng bằng con đường nào?

– Con ước, nếu cha mẹ còn sức lo, con sẽ xin sang Pháp học tiếp.

Ông Khúc-Thừa lẩm bẩm như nói với chính ông:

– Lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn nữa rời.

Khúc-Dõng đợi cho cha chàng nói hết ý, nhưng ông không nói tiếp.  Ông phóng một cái nhìn xa xăm, mơ hồ.

Đèo Hải-vân thật hùng vĩ.  Đây dãy Trường-sơn đâm ngang hai tỉnh Thừa-thiên và Quảng-nam, nho ra biển.  Vách núi phía tây dựng đứng hiểm trở.  Dưới chân núi là vục thẳm, biển Thái-bình hiện ra trước mặt.  Nước trời như liền lại.  Ngọn núi bên trền đèo có nhưng cụm cao 1,500 thước.  Chiều hè vẫn còn nắng chứa chan thế mà trên chóp núi mây phủ trắng.  Dân xứ Quảng có câu hát ru con không biết đã có từ bao giờ và không rõ tác giả là ai:

Chiều chiều mây phủ Hải-vân
Chim kêu gành đá gẫm than lại buồn…

Khúc-Dõng để nhẹ tay lên lưng bàn tay xương xấu của cha rồi hỏi:

– Thưa cha.  Lúc nãy cha có nói:  “Lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn”.  Cha có thể nói rõ hơn được chăng?

Ông Khúc-Thừa mỉm cười hiền hậu, quay sang hỏi vợ:

– Bà Khúc-Thừa trả lời:

– Trời nóng quá, tôi đã thấm mệt.  Tối qua muỗi cắn, tôi không ngủ được bao nhiêu.  Tôi trông mau đến hà để ngủ một giấc thật ngon.  Ông có lẽ cũng không khỏe hơn tôi.  Nhưng mình mừng là thằng Dõng đã đến đích sau một chặng đường dài…

Ông Khúc-Thưa ít cười nhưng trên chuyến tàu oi bức hôm nay, ít nhất ông đã cười hai lần với vợ con.  Quay sang Dõng, ông hỏi:

– Con có nhớ đây là chặng đường  nào của Quảng-nam không?

– Dạ có, con tàu đang vượt cầu Nam-ô!  Còn 15 cây sống nữa sẽ đến Tourane (tiếng gọi ngày xưa của thành Đà-nẵng).  Và chừng 30 cây số từ Đà-nẵng mình sẽ đến nhà, con mừng quá.

Ông Khúc-Thừa bây giờ mới trả lời câu hỏi của con:

– Con biết, cha không ưa chính quyền thống trị Pháp Lòng cha không hề có những tư thù nhỏ mọn như việc viên Đốc-học Đông-dương người Phái đuổi cha ba năm về trước chẳng hạn.  Nước Pháp quân chủ đã lột xác để trở thành thể chế Công-hòa.  Thể chế mang tên đẹp nhưng chính sách chiếm thuộc địa và thực dân của học đã làm dơ bẩn ngọn cờ tam tài:  Tự-do, Bình-đẳng và Bác-ái của dân tộc Pháp.  Họ đã trở thành tên đế quốc ham ăn số một và luôn luôn bịt tai lại.  Lẽ phải của chính quyền Pháp là tàu thủy, súng thần công và đoàn quân viễn chinh.

Giáo sư Khúc-Thừa mải nói chuyện với con trai mình, bà Khúc-Thừa thiu thiu ngủ thì con tàu đang lao vào một vùng cát trắng mênh mông.  Cảnh giang sơn cầm tú hiện ra đã cắt ngang câu chuyện của ông.  Ông không muốn đánh mất một đoạn phim phong cảnh diễm tình.  Ông nhìn như dính vào cảnh vật lùi nhanh vào phía sau.  Đây là bãi bạch sa thuộc làng Đa-phước và Đà-sơn.  Bãi bạch sa này nằm về phía bắc cách vĩ tuyến 16 chừng mười lăm cây số theo đường chim bay.  Bên trái của thân tàu là vũng Thùng Đà-nẵng.  Hòn Tiên-sa đã tự bao giờ nhô lên từ lòng biển.  Hợp với cái đuôi Hải vân sơn tạo tự thành “chiếc cồng” thiên nhiên ôm ấp phố Hàn (Đà-nẳng).  Giáo sư Khúc-Thừa lẩm nhẩm đọc lại một đoạn thơ:


Thành Thái Phiên tắm mình trong khói lửa
Đất
anh hùng một lần nữa hy sinh
Phơi tim son trên biển sắc Thái-bình
Pha sắc máu của một dòng đất Việt
Thuở vong quốc từ lâu đà cách biết
Suốt bao năm làm một đứa con hoang
Ôi! nhớ nhung, lạnh lẽo cái tên Hàn… (*)
(*) Chữ hàn theo Hán ngữ nghĩa là lạnh

Thiết tưởng nên mở một dấu ngoặc tại đây.  Sau “hòa ước” năm Giáp Tuất, Triều đình Tự Đức đã lý nhượng cho Pháp sáu tỉnh Nam Kỳ và thành Đà-nẵng thuộc “nhượng địa” Pháp.  Vũng Thùng Đà-nẵng dưới mắt nhà quân sự Pháp là một quân-cảng tự-nhiên có gia trị chiến-lược cho hải-quân viễn-chinh Pháp lúc bấy giờ.  Đà-nẵng theo “nhũ danh” của nó gọi là phố Hàn.  Phố Hàn sẽ đổi tên nhưng đã đi vào lịch sử qua lời hát ru con:”

Hò ơi…!

Đứng bên ai Hàn ngó qua Hà-thân nước xanh như tàu lá.  Đứng bên tê Hà-thân ngó qua Hàn phố xá nghinh ngang.  Kẻ từ ngày Tây lại xứ Hàn, đào sông Cô-nhí, đắp đàng Bồng-miêu.  Lòng dặn lòng em bậu đừng xiêu…”

Là một lời ru, nhưng lời ru con này đã nhắn ai đừng sớm lai căng.  Vì là vị trí chiến-lược rất thuận cho chính-sách thuộc-địa lúc bấy giờ nhắm vào Đông-dương, Pháp đã đưa một anh thầu xây cất có tên là Tourane.  Sau khi hắn đào vét vũng Thùng cho hải-quân Pháp trú đóng, Tourane cùng với các nhà thầu khoán khác của Pháp đã xoi đèo Hải-vân cho tàu hỏa có thể xuyên núi đi vào Phía Nam theo chính sách của viên toàn-quyền Doumer.  “Thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ nhất”.  Hắn xây dinh thự cho tòa Công-sứ và căn-cứ Quân sự “Tháp con Gà”.  Chính bộ Hải ngoại Pháp lúc bấy giờ đã lấy tên hắn – Tourane để thay cho Đà-nẳng hoặc phố Hàn.  Đà-nẳng đã trở thành một thành phố anh hùng chống ngoại xâm vì Nguyễn tri Phương – một danh tướng Việt-nam 1848-1859.  Thế cùng lực tận, Nguyễn tri  Phương đã chết theo thủ của thành Đà-nẵng để bảo toàn sự trung dũng với quân vương.  Đà-nẵng mang tên như một đứa con hoang từ đó.  Bường-an, Cô nhí, Bát-nhị Dinh-đông là những địa danh thuộc quân Điện-bàn – vùng đất của địa linh nhân kiệt thời Nho tàn, Pháp cũng cho đào một kênh đào nhỏ nối liền với sông Thu-bồn xuyên qua Hạ-nông, Đồng-hồ, tiếp giấp với con sông.  Ngũ-giáp để xuôi xuống Ha-dùa, Hà-quảng khai thông ra biển, chở vàng từ Bòng-miêu về chính quốc Pháp cho tiện…  Lịch sử vong quốc cận đại Việt-nam đã tự nó như những mũi tên đâm vào tim giới sĩ phu và dân tộc Việt.  Cái vòng lẩn quẩn mà giao sự Khúc-Thừa phàn nàn với Dõng bao gồm sự kiện ấy.  Song chính ông cũng chưa tìm ra lối thóa.  Đang miên man xa vời, thì con tàu rống to, dừng lại tại ga Kỳ-lam.  Họ khúc đã đến nhà.

Khúc-Thái-An dẫn đầu gia tộc họ Khúc cùng láng giềng đang chờ đón họ dưới sân ga.  Khúc-Thái-an mừng anh trai đã đậu tú tài cùng cha mẹ nàng đã trở về.  Nàng là một nữ sinh Thành-chung xinh xấu, tươi mát, yêu đời.  Nàng đồng thời là một cô gái mười bẩy rất đảm đang.  Trong vòng hai ngày, Khúc-Thái-An thay mẹ chuẩn bị một mâm cỗ để đón anh và thết đãi họ hàng.  Nàng đã dọn sẵn mọi thứ thực phẩm địa phương lên bàn thờ và bày la liệt hai dãy bàn dài toàn thức ăn do tay nàng nấu:

– Hai bình hoa lây-ơn màu tím.
– Bốn đĩa bàn hình hột xoài nhộng trộn với đậu phụng, thịt bằm và bánh đa nước giòn.
– Bốn đĩa trứng các chuồn trộn với đầu vừng, rau thơm, thịt và dứa chín mà anh nàng ưa thích nhưng đã trật ăn vào tháng năm.
– Thịt heo phay và rau ghếm: xà lách quắn chuối chát thái mỏng, khế chua, ngò tươi, rau quế và búp chuối chát thái khéo tay.
– Máy tô lớn cao-lâu nung thịt với nắm mèo.
– Những đĩa các chép chiên vàng – sản phẩm của sông Thu.
– Mấy đĩa lớn thịt gỏi hành và hai con gà trống luộc để nguyên con, tréo cánh và cắm những hoa thọ vàng vào mỏ để cha nàng cúng đất.
– Một mâm chuối chín, trái boòng boong.
– Mấy đĩa hột xoài chả trứng vàng tươi…
Ông bà Khúc-Thừa rất hài lòng.  Khúc-Dõng véo nhẹ vào chiếc má phúng phính của em rồi nói:
– Mày mà cũng biết nấu cỗ nữa kia?  Cả thế giới trở thành đầu bếp lâu rồi!
Khúc Thái-An trả lời:
– Trừ anh!

***

Ông bà Khúc-Thừa đi rửa mặt, rửa tay, thay áo.  Ông Khúc-Thừa bảo Khúc-Dõng lên nhang đèn và đốt trầm trong hương.  Ông lâm râm khấn, Khúc-Dõng rót rượu.  Xong hai tuần rượu, ông Khúc-Thừa gọi bà lên lay, sau đó đến lượt Khúc-Dõng khấn lạy tổ tiên Tuần rượu thứ ba được chiết xuống và kế đến là tuần trà.  Cả nhà vái tiễn.  Tiệc dọn ra, cả họ hàng, thân thích ngồi vào bàn và liên tiếp chúc mùng Dõng.  Họ hỏi Dõng về tương lai.

Trong bàn việc mừng Khúc-Dõng trở thành cậu Tú có: ông bà Tăng-Hiền, bạn đèn sách của giáo sư Khúc-Thừa; ông bà Phạm phú Thái, em gái của bà Khúc-Thừa và chồng và nhiều bạn bè thân cùng bà con hàng xóm tham dự.  Trời đã về khuya nhưng mâm tiệc chưa tàn.  Thời tiết miền Trung thật khó hiểu, sau ngày ngâu tháng sáu, gió nồm thổi nhẹ theo hướng Đông Tây.  Gió nồm mang hơi nước từ biển Đông; hơi nước ngọt từ sông Thu-bồn ùa vào thôn xóm rất thích hợp cho những buổi hàn huyên.  Ông Tăng-Hiền hỏi ông bà Khúc-Thưa:

– Anh chị chắc đã dự liệu tương lai cho cháu Dõng rồi, tôi muốn nói về tương-lai học-vấn của cháu ấy.  Hãy còn sớm để bàn về chuyện hôn nhân.  Anh chị, nếu thấy tiện xin cho bà con biết để mưng luôn đêm nay có được chăng?

Ông Khúc-Thừa nâng ly trà lên miệng, hớp một hớp:

– Thưa anh chị và bà con, gia đình tôi chật vật hơn và con mình tưởng.  Tuy vậy, khi chọn hướng đi cho hai đứa nhỏ nhà tôi, tôi đã bí đường.  Trên chuyến tàu hỏa về quê hôm nay, bà nhà tôi đã thăm dò cháu Dõng muốn gì.  Dõng muốn học lên.  Tôi hỏi cháu:  Bằng con đường nào, Dõng ước được sang Pháp học nếu gia đình và kinh tế cho phép.  Nếu ráng, chúng tôi cũng đài thọ  cho cháu học lên.  Song tôi ngại sau này cháu Dõng sẽ trở thành một thứ Hoàng cao Khải…

Ông Tăng-Hiền và vợ chồng Phạm phú Thái nhao nhao, cắt lời ông Khúc-Thừa:

– Anh nói cái gì?  Đã dành, chúng ta đã chứng kiến nhiều Hoàng cao Khải, nhưng anh đừng rủa Dõng là thứ Hoàng cao Khải mai sau.  Bởi vì Dõng là con trai anh, chịu ảnh hưởng truyền thống “Địa linh nhân kiệt”, chúng tôi không tin Dõng dẫm lên dấu vết dơ bẩn ấy của lịch-sử.  Qua Pháp để mua một hệ thống giáo dục chứ không phải để học cái nghiệp cu-li.  Paris lại là trung-tâm văn-hóa của Âu-châu.  Không những khong có lý do ngại Dõng sẽ trở thành rác rến của thời đại mà là niềm hy-vọng cho gia đình anh chị và xóm làng.  Anh chị nên cho cháu Dõng một cơ hội.  Chúng tôi biết anh chị sẽ không cần Dõng gì cả mà chỉ mong bọn con nít của chúng ta nên người.  Cả xứ sở cần chúng mai này…

Ông Khúc-Thừa nghe một cách chăm chú, hớp tiếp một ngụm trà.  Khuôn mặt nghiêm khắc cực đoan của nhà dạy sử chứa đầy cả một “càn khôn” phong kiến đã bớt nhăn nhó.  Bà Khúc-Thùa tươi tỉnh nhưng trí óc bà hoạt động có vẻ dữ dội, liên tục.  Tâm hồn bà là chiếc máy phân tâm của một triết gia chưa thành triết gia.  Mặc dù hập thụ Triết học Tây phương, song tư-duy bà đã thừa chỗ dành cho tâm tòng tứ đức.  Bà nhường chờ ý kiến của “phu quân”.  Ông Khúc – Thừa liếc Dõng rồi lên tiếng chậm gần như đinh thép:

– Lịch sử và con người mối tương giao.  Lịch sử tạo ra con người, hay con người tạo ra lịch sử?  Chuyện ấy vẫn còn là mối nhùng nhằng:  Con gà đẻ ra cái trứng hay cái trứng đẻ ra con gà?  Nếu đi xa chút nữa, có người lại bảo:  Ông ấy tàng tàng.  Nhà vật lý Archimedes ngày xưa, vì say mê về một qui luật nê ông lấy đã điên nặng chứ không thuộc loại tàng tàng nữa.  Một hôm nhà bác học vật lý kia đang tắm.  Dù say me khoa học đến đâu, nếu không tắm rửa, cả một khối tế bào thoái hóa bám trên cơ thể ông ta, thối như chuột, nên ông Archimedes phải tắm.  Ông nằm yên trong bồn nước ấm.  Ông để cho giọt nước rơi xuống bồn đều đều.  Giọt nước rơi xuống bồn nước yên tĩnh, tự nó tạo ra từ gần đến xa theo một vòng tròn bằng nhau.  Ông ta la toáng lên!  Archimedes trần truồng chạy ra đường, dơ hai tay lên trời la hoảng:  “Tôi đã tìm được rồi!”  Tìm được cái gì kia chứ?  Người đi trên đường nguýt ông như nguýt một thằng điên…  Nhưng Archimedes đã khám phá ra được một định luật:  “Áp suất của nước truyền đi khắp mọi phương và bằng nhau”…  Tôi nhận lời khuyên của bà con.  Tôi hy vọng lịch sử đừng lặp lại.  Tôi sẽ bán đứt hai mẫu ruộng tư để cháu Dõng đi Pháp học.  Tôi gởi vào Dõng một niềm mong ước nếu nó sẽ không trở thành Hoàng cao Khải thì cũng không phải là thứ Hoàng tử Cảnh – cõng rắn cắn gà nhà.

Bà Khúc – Thừa chen vào:

– Tôi không tin như vậy.  Mỗi thời đại, mỗi trào lưu đều có những dòng thác tư tưởng khác nhau.  Lời cảm tưởng tốt nghiệp của Dõng tại Huế sáng nay là một nguồn thác tư tưởng mới kiesn cho Bernard – một tiến sĩ chính trị lớp trước của Pháp phải méo mặt.  Thừa tưowsng N.H.B. đã giở lịch sử để chứng minh lịch sử.  Ông lấy là một tên báo hoàng hơn vua.  Song cả hai đều đã lỗi thời.

Giáo sư Khúc-Thưa một ý.  Ông đoán nhầm vợ mình đang mỉa mai quan niệm cổ hủ của mình, ông quyết định:

– Thôi thì cứ để cho Dõng đi Pháp học tiếp, nhưng liệu có quá trễ không?

Vợ chồng Phạm phú Thái đồng thanh:

– Gần trễ nhưng chưa quá trễ, để bọn tôi lo cho anh chị.

Ông bà Tăng-Hiền lên tiếng:

– Chúng tôi sẽ mua ngay hai mẫu ruộng của anh chị.  Nếu anh chị quyết định bán, ngay mai chúng tôi sẽ mang tiền đến, anh chị nói dứt khoát đi!

Ông bà Khúc-Thưa gật đầu:

– Quyết định,  chúng tôi đợi anh chị ngày mai.

Vợ chồng Phạm phú Thái vui mừng chen vào:

Cả hai bàn tiệc vỗ tay rộ lên.  Tất cả đứng dậy ra về.  Buổi tiệc tan.

Sáng hôm sau, chừng nửa buổi thì cả ông bà Tăng-Hiền lẫn ông bà Phạm phú Thái đều đến cùng lúc.  Vì ông bà Phạm phú Thái ở Hội-an, ông bà Tăng-Hiên ở Vĩnh-điện nên trên đường đi Bường-an ông bà Phạm phú Thái ghé lại Vĩnh-điện để rủ ông bà Tăng-Hiền cùng đi.  Họ đi bằng hai chiếc xe kéo.  Ông bà Khúc-Thưa và Khúc-Dõng đang chờ họ.  Khúc Thái-An cùng hai bạn gái của nàng vừa đi chợ Kỳ-lam về, đang chuẩn bị bữa cơm trưa.

Ngồi vào bàn, ông Khúc-Thừa soạn ra 10 tờ trích lục có hình vẽ từng thửa ruộng do tòa Điền địa Trung Kỳ cấp.  Ông bà Tăng-Hiền xem kỹ từng tờ trích lục bằng giấy đầy (cartes) màu vàng mỡ gà.  Theo hình vẽ thì hai mẫu ruộng do ông bà Khúc-Thừa làm sở hữu chủ gồm có mười đám liên kể nhau.  Đám rộng nào cũng vuông vắn cả, chỉ trừ một đám sát bờ sông là hình đa giác.  Ông bà Tăng-Hiền gật đầu hài lòng.  Bây giờ ông Khúc-Thừa mời ông bà Tăng-Hiền đi xem ruộng.  Dõng cuốn tròn 10 tờ trích lục lại, dùng giấy báo cuốn quanh phía ngoài rồi theo cha đi ra ruộng.  Từ nhà đến sở ruộng chừng nửa cây só.  Lúa gieo tháng năm vừa mọc lên độ một gang, rễ lúa đã bén phân nên thân cây lúa trông mập mạp, lá xanh mơn mởn.  Ông Khúc-Thưa bảo Dõng mở từng tấm trích lục ra giới hiệu với ông bà Tăng-Hiền.  Ông bà Tăng-Hiền có vẻ rất hài lòng vì đây là ruộng loại một, khó tìm ra.  Ông bà Tăng-Hiền nhìn lúa xanh phơi phới như lòng mình, bà Tăng-Hiền hỏi ông Khúc-Thừa:

– Thưa anh – Anh thu hoạch mùa gieo của hai mẫu ruộng này được bao nhiêu tạ?

Ông Khúc-Thưa rất rành tính lúa thu hoạch cả hai mùa.  Mùa gieo còn gọi là mùa lúa tháng mười, mùa cấy gọi là mùa tháng ba.  Ông trả lời rất rõ:

– Dạ, bây giời tôi nói về thu hoạch vụ mười trước.  Hai công mẫu này tính trung bình, chúng tôi thu hoạch chừng 800 ang-nghĩa là tương đương với một tấn rưỡi.  Mùa tháng ba chừng một tấn.  Mỗi năm, chúng tôi thu vào được hai tấn rưỡi lúa khô.

Ông bà Tăng-Hiền nói ngay với ông Khúc-Thừa:

-Anh chị đừng lo.  Vì chúng tôi mua ruộng trong khi anh chị đã gieo xong lúa, tất nhiên là phải tính luôn giteefn trị giá lúa.  Sở dĩ chúng tôi hỏi kỳ về số lượng lúa thu hoạch là để tính só tiền thêm, anh chị không bị thiệt.

Ông Khúc-Thừa mỉm cười trả lời:

– Tôi hiểu tấm lòng ngay thật của anh chị từ lâu.  Xin cám ơn.

Xem xong ruộng, tất cả rở lại gia đình Khúc-Thừa ăn trưa.  Sau cơm trưa, cả ba gia đinh ngồi lại với nhau ngã giá.  Ông bà Tăng-Hiền lên tiếng trước:

– Chúng tôi biết, nếu anh chị không cần tiền cho cháu đi học, thì đời nào anh chị lại bán hai mẫu ruộng phì nhiêu này.  Bây giời xin mời anh chi cho biết giá cả.

Ông Khúc-Thừa trả lời trước:- Hai mẫu ruộng loại A ở vùng này và lúc này (ruộng chưa trồng trọt) là hai ngàn đồng…

Bà Tăng-Hiền nói ngay:

– Không đắt, rất vừa giả – tôi đã có chừng một công mẫu ở Vĩnh-điện, ruộng dưới ấy loại B.  Nhưng giá chỉ sụt hơn loại ruộng này chút đỉnh.  Ngoài ra, chúng tôi còn trả thêm anh chị 300 đồng về tiền lúa gieo mà anh chi đã gieo xong.

Ông Tang-Hiền cười rất tươi trước khi có đôi lời:

– Thế là dứt giá: hai ngàn ba trăm cả thảy phải không, thưa anh chị?

Ông bà Khúc-Thừa gật đầu.

Đoạn ông bà Khúc-Thừa bảo Dõng đi xuống xóm dưới mời ông lý trưởng tên Phan-Khương lên làm chứng và đống triện trên giấy khế bán ruộng.

Giáo sư Khúc-Thừa là người có uy tín lớn trong làng nên khi được mời, Phan-Khương mặc áo dài, bịt khăn đóng, tay cầm chiếc quạt giấy, tay xách đảy Triện (con dâu) ra đi.

Ông Phạm phủ Thái tự nguyện viết văn khế bằng chữ Nho.  Ông mời cả lý trưởng cùng lẫn hai bên mua bán ruộng sang bức ván bằng gỗ lim, trải chiếu hoa giữa nhà-để chứng kiến ông lập văn khế.  Cách viết chữ Nho đã trở thành một công thức hẳn hoi:  hai chân tréo lại, người viết ngồi khom, tập giấy bản để ngay dưới cánh tay mặt.  Tay mặt người viết cầm cây bút lông thẳng đứng 90 độ; nghiên mực xạ đặt một bên xếp giấy.  Đoạn, ông xem kỹ các tờ trích lục để biết rõ đồng, tây, nam, bắc và nêu rõ thước, sào, mẫu từng mảnh ruộng.

Độ một tiếng đồng hồ, văn khế hoàn thành.  Ông Phạm phú Thái ngồi thẳng lên, thở phào, hớp một ngụm trà rồi đọc chậm văn khế.  Thông thường, văn khế phải sửa lại nhiều lần nếu người mua hay người bán thấy chưa rõ.  Song, trường hợp, văn khế vừa đọc xong là cả hai bên và ông lý trưởng gật đầu ngay.  Cả hai bên ký tên trước mặt lý trưởng.  Người ký tên cuối cùng là viên lý trưởng Phan Khương rồi đóng triện vào.

Ông bà Khúc-Thừa nhận tiền.  Tiền giấy có in hình người nông phu trẻ gánh dưa bằng vàng, đó là đó là tiền Đông-dương có bảo chứng bằng vàng thời ấy.  Ông bà Tăng-Hiền nhận trích-lục và văn khế bán đoạn mãi của ông bà Khúc-Thừa bỏ vào chiếc tráp bằng gỗ đánh bóng màu đen, khóa lại.

Khúc Thái-An bưng một chiếc khay, trên khay đặt một đĩa bàn lớn gỏi gà, một chai cổ bồng rượu trắng và bảy chiếc ly con.  Họ sẽ uống mừng việc mua bán đã xong cùng là lời cám ơn viên lý trưởng.  Quí bà từ chối, chỉ còn lại 4 người đàn ông ăn gỏi và uống rượu vui vẻ.  Ông Khúc-Thừa đặt một bao thơ nhỏ màu hồng, trong đựng hai các bạc để cảm tạ lý trưởng.  Phạm Khương từ chối.  Công việc xong thì trời đã xé qua.  Ông bà Tăng-Hiền muốn về để cho gia đình họ Khúc tiện việc chạy giấy tờ cho Dõng.  Ông bà Phạm phú Thái ở lại bàn tính việc chạy giấy tờ xuất cảnh cho Dõng, nếu chần chờ sẽ trễ chuyến đi…

Ông bà Khúc-Thừa và vợ chồng Phạm phú Thái ngồi vào bàn.  Dõng cùng tham dự và đóng góp thêm ý kiến nếu cần.  Dõng rất vui vì vấn đề quan trọng số một, vấn đề tài chánh đã giải quyết xong.

Ông bà Khúc-Thừa hỏi ngay vợ chồng Phạm phú Thái:

– Anh chị biết Dượng và Dì quen biết nhiều nơi quan trọng trong nước cũng như bên Pháp, nên cố gắng giúp cháu một tay.  Bây giờ hai việc phải tiến hành cùng lúc.  Đó là xin giấy xuất cảnh và xin chiếu khán nhập cảnh Pháp cũng mất một tuần.  Đó là chưa kể đến sự gây khó dễ thường xảy ra cả Pháp lẫn Nam Triều.  Tôi lại bị Bộ Quốc Gia Giáo dục Nam Triều lẫn Phủ Toàn quyền Đông-dương ghét.  Tôi lo nhất điểm này…

Phạm phú Thái nói ngay:

– Tôi có quen biết Lê-N., Thượng thư bộ Giáo-dục và Thiếu tướng De Tourneau chánh sở Công an nội chính phủ Toàn quyền.  Tôi phải đi Huế và Hà-nội ngay vào sáng mai mới kịp.

Bà Phạm phú Thái nhũ danh Thái-Hằng, em ruột bà Khúc-Thừa đã sống học hơn 10 năm tại Marseille, quen biết nhiều giáo-sư và bạn bè người Pháp mà bà vẫn còn giữ liên lạc thân thiết với họ đến hôm nay.

Bà Phạm phú Thái tiếp ý chồng:

– Em sẽ đi đánh điện tín cho ông bà François để nhờ giúp đỡ khi Dõng đến nơi.  Cả việc ghi dan thi tuyền và nơi tá túc cho Dõng tại Marseille II” đang bốc dỡ hàng tại Đà-nẵng.  Mỗi người một việc, bắt tay ngay vào ngày mai.

Sáng hôm sau Dõng lên đường đi Huế và Hà-nội cùng với ông Phạm phú Thái.  Cũng buổi sáng cùng ngày, bà Phạm phú Thái đến sở bưu-điện Đà-nẵng gởi một điện-tín dài cho ông bà François tại Marseille.  Bứu điện mô tả rõ ràng và khẩn khoản nhờ ông bà giúp đỡ.  Ba ngày sau, bà Phạm phú Thái nhận được điện tín trả lời của ông bà François cùng lời chúc may mắn cho cháu bà.  Họ ghi chú phía sau:  “Xin  cho biết bằng điện tín ngày lên đường của Dõng và phỏng độ ngày con tầu cặp bến Marseille”.

Khi ông Phạm phú Thái và Dõng đến Huế, vào ngay Bộ Quốc Gia Giáo-dục rồi sang Bộ Lại Nam triều.  Ông gặp N.H.B. – người đã đại diện triều đình Huế dự lễ tốt nghiệp của Dõng hôm trước.  Nhờ có lời đề nghị rất thiện chí của Lê N., Bộ Lại phê chuẩn xuất cảnh cho Dõng N.H.B. đã nhận ra cậu bé Thủ Khoa phát biểu cảm tưởng trong lễ tốt nghiệp hôm nọ.  Vẻ mặt N.H.B. xuất hiện niềm vui và chúc Dõng sớm thành tài.  Ông viết một văn thư cho Tòa Khâm bỏ vào một phong bì dán kín và đề “KHẨN KÍN”.  Phạm phú Thái và Khúc-Dõng sang Tòa Khâm liền gặp ngay Bernard-cố vấn chính trị và giáo dục Trung Kỳ của Tòa Khâm Sứ Huế.  Nhận mọi giấy tờ do ông Phạm phú Thái trình lên cùng với bức thư riêng của N. H.B.-Nam triều.  Độ một tiếng sau, Bernard gọi Phạm phú Thái và Dõng vào văn phòng riêng.  Viên cố vấn người Pháp vui và rất hoạt bát bắt tay cả hai người.  Ông chỉ hai chiếc ghế bành sang trọng mời ngồi.  Câu nói đầu của Bernard là báo tin vui cho Dõng.

– Tôi nhân danh Tòa Khâm Sứ bên cạnh Triều Đình Nam triều đã điện về phủ Toàn Quyền nửa giờ trước và đã được phủ Toàn Quyền chuẩn y.  Không những thế, phủ Toàn Quyền còn cấp cho Khúc-Dõng một nửa học bổng vì Dõng đã đậu ưu hạng.  Phủ Toàn Quyền đã ủy nhiệm cho Tòa Khâm giải quyết.  Do đó chuyến đi Hà-nội của ông và cháu Dõng không còn cần thiết nữa.  Tuy nhiên, họ yêu cầu phải có mặt cha mẹ Dõng tại Tòa Khâm đồng ký vào tờ bảo đảm “an-ninh chính-trị”

Ông Phạm phú Thái cố dấu một hơi thở dài rồi nói:  Xin cám ơn ngài cố vấn Tòa Khâm.  Như vậy, chúng tôi sẽ đánh điện tín khẩn cấp về cha mẹ Dõng và rồi phải đợi họ ra đây…

Bernard trả lời:

– Đúng thế.  Xin gặp ông, cháu Dõng và ông bà Khúc-Thừa càng sớm càng tốt.

Bernard đứng dậy bắt tay hai người, tiễn họ ra cửa.  Viên hầu cận đóng cửa lại.

Ông bà Khúc-Thừa nhận điên tín từ tay một nhân viên phóng Bưu điện Faifo (Hội-an) vào ngày hôm sau.  Đọc xong bức điện, giáo sư Khúc-Thừa thở pháo lo lắng.  Có thể Nam-triều và Tòa Khâm Sứ Huế đã gây khó dễ cho gia đình.  Ông đọc đi học lại ba câu trong điện tín:  “Mọi việc trôi chảy.  Tòa Khâm tê yêu cầu anh chị phải có mặt tại tòa trong thời gian ngắn nhất.  Chúng tôi đang đợi anh chị tại nhà riêng của quan Thượng thư Bộ Quốc Gia Giáo Dục Nam triều, Le N.”  Ký tên:  Phạm phú Thái.

Ông bà Khúc-Thừa sửa soạn hanh lý rồi đến ga Ký-lam đợi chuyến tàu suốt từ Sàigòn ra hồi 10 giờ đêm.  Ông bà Khúc-Thưa đến Huế vào lúc 3 giờ khuya.  Không dám làm phiền một nhân vật cao cấp của Triều đình vào giờ này, ông bà thuê một phòng trọ tạm đợi trời sáng.  Đúng 8 giờ  sáng, ông Khúc-Thưa gọi một chiếc xe tay đi ngay đến dinh Thượng thư.  Theo luật, xe cộ, người đi bộ phải dùng con đường khác.  Khi Dinh thự và Cung điện im lặng như một nghĩa trang.  Hai người lính nhố xanh đang nghiêm trang bồ hai cây súng dài thòng kiểu L’Indchinoise có gắn lưỡi lê.  Họ đứng như hai pho tượng.  Ông bà Khúc-Thừa dừng lại cách họ chừng 10 thước tây.  Hai người lính khố xanh gọi khẽ một viên khố xanh khác bên trong.  Viên khố xanh này có vẻ là cai hay đội gì đó.  Ông ta vẫy tay gọi ông bà Khúc-Thừa đến gần hơn và hỏi:

-Ông bà muốn gì?

Ông Khúc-Thừa thưa:

-Thưa thầy đội, chúng tôi muốn đến diện kiến qua Thượng thư.

Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Viên khố xanh hỏi tiếp:

– Ông bà cho biết quí danh.

Ông Khúc-Thừa trả lời:  “Khúc-Thừa”

Ông ta đã được Lê N. dặn rằng có ông bà tên Khúc-Thừa từ Quảng-nam ra, đến gặp ông.  Hễ có họ đến là mời ngay vào, nên viên khố xanh cong người chào rồi mời ông bà vào Dinh.

Lê N. cùng Phạm phú Thái và Dõng đang đợi tại phòng khách.  Lần đầu tiên ông bà Khúc-Thừa gặp Lê N. Ông ta cao, khuôn mặt vuông, miệng rộng.  Hai vệt râu mép cụp xuống khỏi khóe miệng.  Ông ấy đang mặc lễ phục Nam triều: mão xanh cánh chuồn, áo xanh rộng có thêu rồng và đại vàng.  Ông bà Khúc-Thừa vái chào, Lê N. cung hai tay áo chào lại.  Đoạn ông mời khách ngồi.

Lê N. hỏi ngay:

-Tiên sinh và bà có khỏe không?  Hai vị đến Huế vào lúc nào?

Ông Khúc-Thừa trả lời:

-Bẩm quan Thượng thư.  Chúng tôi đến ga Huế vào lúc 3 giờ khuya.  Chúng tôi tạm trọ tại quán trọ chờ giờ yết kiến.  Nhân đây, chúng tôi xin quí quan và phu nhân nhận lời đa tạ của chúng tôi về lòng đại lượng và thương dân của Ngài.

Lê N. trả lời.

– Không có chi.  Nhân đây cũng xin báo cho Tiên-sinh và bà một tin mừng.  Triều đình và Tòa Khâm đã chuẩn y việc xuất đương du học của Khúc-Dõng.  Không những vậy, phủ Toàn Quyền còn quyết định cấp cho cậu Tú một nửa học bổng.  Họ sẽ lập quyết định và chuyển về bộ Giáo dục Phá quốc vì Dõng là một thủ khoa Tú Tài Đông Pháp.  Tôi không tin là Dõng gặp trở ngại trong khóa thi nhập học.  Theo chỗ tôi biết, đề thi nhập khóa Cao-đẳng bên Pháp còn dễ hơn bên ta nhiều.  Việc mời ông bà đến Tòa Khâm lý giấy chịu trách nhiệm suốt thời gian Dõng sống và học bên ấy, đó là một thủ tục thông thường nhưng bắt buộc.  Mong Tiên-sinh và bà không phiền lòng về việc này…  Để tôi điện đàm với quan cố vấn tòa Khâm xin giờ hẹn để Tiên-sinh, Bà, đại huynh Phạm phú Thái, cậu Tú sang làm công việc cuối cùng bên đó.  Xin kính mời Tiên-sinh, Bà, đại huynh Phạm ghé lại tệ xá nghỉ ngơi khi về Quảng.

Ông bà Khúc-Thừa mừng quá và thưa:

– Bẩm quan Thượng thư.  Được kết quả này là nhờ công đức của quí quan.  Chúng tôi rất đội ơn ngài và nhà vua.  Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng công việc sẽ hoàn tất nội ngày hôm nay.  Nếu như vậy, chúng tôi sẽ phải về ngay.  Nhân đây, một lần nữa xin kính lời tạm biệt quan Thượng thư, phu-nhân cùng bửu quyến.  Chúng tôi xin quí quan trao hộ lời viếng an của chúng tôi lên quan.  Thừa-tướng Nguyễn.

Lê N. xin vào bên trong một phút, ông trở ra và báo tin:

– Tòa Khâm muốn gặp quí vị ngay vào lúc 11 giờ.  Cả đoàn đứng dậy hướng về Lê N. cúi chào từ giã.  Quan Thượng thư đưa họ ra khỏi của phòng rồi cung tay chào họ lần nữa.

Tòa Khâm Sử Huế là tòa đại diện Bộ Hải ngoại Pháp và cả phủ Toàn Quyền Đông Dương bên cạnh Nam triều.  Họ có một thẩm quyền khá rộng, đôi khi họ gởi báo cáo về bộ Hải Ngoại Pháp, chỉ cần gởi cho phủ Toàn Quyền hà-nội một bảo sao mà thôi.  Dinh thự Tòa Khâm kiến trúc theo truyền thống kiến trúc lâu đời của Pháp.  Công trình xây cất của ho nói lên vẻ hùng mạnh và uy quyền.  Tường đúc bằng xi măng, màu xi măng vuông vắn, dầy cộm.  Những cách cửa sắt đen bóng chắc nịch khiến ta có cảm giác đó là những chiến lũy Verdun.  Công trình kiến trúc và hệ-thống hành chính của Tòa Khâm là sự đối lập 180 độ so với lâu dài nguy nga; những đường cong phức tạp, rườm rà của cung điện Nam triều.  Đó là hai thế giới khác biệt nhau qua một đường phố.  Và đó cũng là linh hồn của hai nền văn minh Đông – Tây rất khó pha trộn hoặc dung hòa.  Khúc-Dõng sắp bước và một thế giới xa lạ từ hôm nay.

Bernard cho viên thiếu ta Pháp ra ngoài mời ông bà Khúc-Thừa, Phạm phú Thái và Khúc-Dõng vào.  Phạm phú Thái rất đỗi ngạc nhiêu khi thấy Thiếu tướng De Tourneau bên cạnh Bernard.  Ông lên tiếng giới thiệu trước:  Đây là quan cố vấn Tòa Khâm – Bernard; Thiếu tướng De Tourneau, chánh cơ sở An-ninh nội chính phủ Toàn Quyền.  Ông bà khúc-Thừa bắt tay song rất ái ngại.  Tại sao viên tướng mật thám này lại có mặt tại đây để làm gì?  Viên Thiếu tướng to lớn ngoại cỡ.  Thoạt nhìn, hắn có vẻ là một nhà trí thức hơn là một võ-quan.  Hắn đeo kiếng cận.  Mái tóc vàng hoe của De Tourneau rẽ xiêng nhẫn.  Cập lòng mày rậm, đôi mắt lớn, hai con người ít láo liên.  Khuôn mặt ngựa nhưng đẹp trai vì sống mũi cao và thẳng với chiếc mồm xinh của hắn.  Tuy nhiên, chiếc cầm bạnh ra đã làm hỏng cả khuôn mặt thanh tú của hắn.  Hắn cười rất tiết kiệm, nếu không muốn nói đó là nụ cười thiếu thật thà.  Nếu De Tourneau, một loại tướng không bao giờ chỉ huy một tiểu đội nào, thì sứ mệnh của hắn không bao giờ biết thua trận đằng sau chiến trường thuộc địa từ Phi châu đến tới Á châu.  Lý do De Tourneau xuất hiện hôm nay chỉ được giải thích như vậy.  Bernard mời ông bà Khúc-Thừa ký vào lời cam đoan cho Dõng.  De Tourneau liền gọi một nhiếp ảnh viên đến chjup bình.  Công việc từ khỏi sự đến chấm dứt chỉ 30 phút.  Bernard bắt tay ông bà Khúc-Thừa, Phạm phủ Thái và Dõng.  Ông ta nói gọn:

– Chúc cháu may mắn.  Cháu sẽ có nhiều bạn trai da trắng thông minh như cháu.  Cháu sẽ gặp nhiều bạn gái tóc vàng đa cảm.  Biết đâu, cháu sẽ được họ yêu.  Nhưng cháu nên nhớ mãi một điều, họ không phải những tâm hồn phải bội.

Đủ rồi.  Họ không có nhiều thì giờ để dài dòng.  De Tourneau nghiêng chào viên cố-vấn và cả hai tiễn họ ra của Tòa Khâm.