Monday, December 11th, 2017 5:49:44 pm

P L Design |  Lam T. Vo

Chương 2 – Lạc Đường

Con tàu Marseille II rời Vũng-thùng Đà-nẵng vào trước hoàng hôn.  Con tàu đã đưa Dõng vào cuộc hành trình lý quốc.  Ông bà Khúc-Thừa, Khúc Thái-An vẫy tay trong nước mắt.  Họ có cảm quan rằng, họ đã tiễn đứa con trai đi vào cõi hư vô, vô định Giờ đây chỉ còn hai lối để suy tư:  Một là Dõng trở lại quê hương để làm một cái gì cho dân Việt; Hai, biết đâu, Dõng là thứ cái bị của trần ai sẽ bị cuốn hút theo cơn gió lốc của thời đại không chừng.  Đà-nẵng lên đèn.  Khúc-Dõng chạy lên boong tàu nhìn vào đất liền đang dần xa.  Ánh đèn Đà-nẵng rung rung rồi biến vào đêm tối của Á-châu.  Lần đầu tiên rời quê cha đất tổ, Dõng nhói trong lòng.  Con tàu rời khỏi hòn Tiên-sa, Dõng khóc.  Nước mắt chưa bao giờ giải quyết được gì.  Chàng bừng tirh, nhẩm đọc câu thơ:  “Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.

Suốt ba tuần lễ sau ngày rời trường là cả một chuỗi ngày căng thẳng, lo lắng khiến Dõng mệt mỏi, rã rời. Giờ đây Dõng cố tìm một sự bình yên trên con tàu xa lạ này.  Nhưng đâu có dễ dàng.  Ước mơ đã lôi Dõng đi tìm một chân trời lý tưởng xa vời mà dêm nay mới là thời điểm khởi hành.  Tình cảm có vẻ như níu chân chàng lại.  Quê hương: nương dâu, bãi mía, tiếng thoi dệt, tiếng rè rè của chiếc xa quay…  Dòng nước Thu-bồn triền miên xanh màu bất diệt, tiếng sao điều trên lưng trời.  Những chiếc bia bằng đá hay bằng xi-măng trước những nấm mồ nơi chôn nhau cắt rốn của chàng hoàn toàn im lặng, nhưng chúng đang nói rất nhiều.  Đó là tình yêu – khối tình vĩ đại của cha mẹ, của em gái chàng.  Từ mái trường làng nghèo xơ với ông hương sư rụng răng dến ngôi trường Quốc học khá đủ tiện nghi, với những thầy cô có vẻ pha trộn nửa Đông nửa Tây và giàu kiến  thức; những bạn đèn sách rất trong trắng như một bài thơ trữ tình…  Tất cả kỷ niệm và hoài niệm giờ đây chàng đã vứt lại phía sau.  Dõng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết.  Tâm hồn Dõng đang chìm vào vùng đáy của trái tim; tủi, thương, trách móc…  Tất cả do chính mình gây nên, song đã trói rồi.  Chàng tự nghĩ:  Thời gian là thăm thẳm.  Ta sẽ trở về và trả những gì ta ang mắc nợ.  Ta sẽ không bao giờ là thú Hoàng cao Khải hay Hoàng tử Cảnh cả…  Đang ngồi như pho tượng trên boong, viên bồi phòng của Marseille II chạy đi tìm Dõng.  Ông ta là một người Pháp sanh trưởng tại Toulouse.  Ông vào trạc tuổi 45, rất vui tính và thật thà.  Henry đã sống trong nghiệp hải hành suốt hai mươi năm nay.  Quê ông kẹp giữa Đại tây dương và Địa trung hải.  Đường hàng hải Á-Âu là con đường mòn của đời ông.  Thấy Dõng đực ra trên boong tàu về đêm, ông đến vỗ vai Dõng:  “Này ong bạn trẻ của tôi.  Bộ câu khóc hả?  Dẹp đi, con nai vàng của Đông-dương!  Đi học không phải đi đưa đám ma!  Tại sao cậu khóc!  Tôi có một đứa con gái tên Linda, năm nay 18 tuổi vừa xong bậc tú tài.  Con bé nhà tôi, về sắc đẹp chẳng có gì đáng ca ngợi cả.  Song nó hiền và ngoan.  Trong đời học trò, nó cũng chẳng có gì để phải chê trách.  Đến Marseille, tôi sẽ đưa cậu đến Toulouse để làm bạn với gia đình tôi.  Nếu cậu muốn yêu Linda, xin cứ việc yêu.  Biết đâu, Linda sẽ là cái lò sưởi gây âm cho đời cậu…”  Lão Henry có khiếu nói chuyện rất khôi hài.  Lão nói quàng nói xiên nhưng không bao giờ lạc đề, bố cục câu chuyện bằng loại nghệ thuận “diễn dịch rất dễ hiểu.  Còn hơn mấy anh “văn sĩ” vỉa hè, quơ lượm những tình cảm thiếu chân thật, lại đưa đòi.  Càng viết càng lâm nguy.  Dõng bật cười khi nghe lão Henry kháo chuyện.

Viên bồi phòng Henry chụp lấy tay Dõng dẫn xuống tầng ba của con tàu.  Henry bàn giao cho Dõng một cưn phòng khá tươm, tất cả sơn màu thiên thanh.  Giường ngủ trải tiệm trắng, một chiếc bàn nhỏ màu trắng, một tube đèn Neson sáng, mát…  Ông ta lôi Dõng đi sang phòng vệ sinh sát cạnh.  Đây là một phòng tắm, rửa mặt khang trang.  Tất cả đều sơn màu trắng.  Đoạn, Henry dắt Dõng lên phòng ăn.  Một căn phòng mênh mông có thể chứa cả trăm người cùng ngòi ăn một lúc, có ba Bar rượu và ngườ phục vụ.  Dõng ngơ ngác, đúng là một con nai của xứ Đông-dương thuộc-địa.  Xong công việc giới thiệu, Henry đưa Dõng trở về phòng ăn.  Lão ẩn tay bảo Dõng ngồi xuống một bàn ăn bóng, màu gỗ đậm.  Vài khách bộ hành về trễ đang ăn.  Henry bưng lên một khay thức ăn tối rất tây, để vào lòng Dõng, bảo ăn đi.  Hai miếng thịt bò chiên, một đĩa rau trộn bơ, một lúc bánh mì hình trái chuối nóng vàng.  Một chiếc ly bằng thủy tinh trống trơ, dao ăn, muỗng, nĩa và khăn ăn sạch, thơm.  Henry hỏi Dõng:

– Cậu muốn uống gì?

Dõng lúng túng trả lời:

– Xin cho tôi một tác trà.

Henry gật đầu.  Dõng ăn một cách mò mẫm.  Cậu ta đang đói.  Dõng thèm thịt chiên nên cắt ngay từng lát đưa vào miệng nhai.  Thịt chiên ngon, ăn với bánh mì nóng giòn, Dõng quét sạch đĩa nhưng đĩa sà-lách vẫn còn nguyên.  Henry đưa trà đến thấy Dõng ăn xong, hắn cười.  Henry hỏi:

– Cậu có cần thêm gì nữa không?

Dõng lắc đầu.  Henry báo cho Dõng biết về lịch trình sinh hoạt trên tàu mỗi ngày; 8 giờ sáng ăn điểm tâm, 12 giờ ăn trưa, 07 giờ đến 10 giờ tối ăn tối.  Xong, Henry bảo Dõng nên đi ngủ sớm.

***

Dõng về phòng, đóng cửa lại rồi lao lên giường.  Chàng nghĩ:  Chuyện đa đoan vẫn đa đoan.  Nhưng đa đoan không phải để con người nhu nhược.  Dõng ngủ một giấc đến 10 giờ sáng hôm sau.  Sau một giấc ngủ đầy ức chế, nghĩa là giấc ngủ không bình thường, Dõng chìm trong những cơn mộng mị rối loạn:  Dõng bị ngộp thở sắp chết khi chàng bị đuối sức, chìm xuống dòng sông Thu bồn – Chuyện của mười hai năm về trước khi chàng là một âu bé lên bảy; Một bài đại-số đặt hỏng phương trình khiến chàng ân hạn; Cô Thu-Vân đã yêu chàng say đấm, bất chợt nàng đã phụ chàng để đi theo một chàng tai khác; Chàng bị cha chàng la mắng đuổi đi…  Mẹ chàng đang lành mạnh trở thành một người đàn bà chán chường ự sống; cha chàng thất vọng vì chàng mà đã thắt cổ tự tử…  Cơn ác mộng ấy đã hành hạ Dõng suốt đêm đầu tiên trong bụng của con “Rùa sắt” đang lội giữa đại dương.  Dõng tức giấc lúc 10 giờ 30 sáng, giờ Đông-dương.  Khi bừng mắt, Dõng còn ngát ngủ, hoảng hốt không biết mình đang ở đâu.  Ngồi trên giường vài giây, nhìn qua cửa sổ bàng kiếng thấy toàn nước mênh mông.  Màu trờ nhuộm thiên thanh, nước đại dương pha màu ngọc bích… không bến bờ, không cây, không nhà cửa.  Thỉnh thoảng, vài cánh chim hải âu hấp tấp lượn qua rồi biến vào cõi lạ của tuyệt vời.  Dõng trở về với thực tại.  Dõng biết mình đang trong con tàu Marseille II trên đường sang Pháp.  Dõng tự thấy mình nhỏ bé quá so với sự vĩ đại của cõi thực.  Dõng không biết rõ đây thuộc vùng trời nào.  Chàng đi súc miệng, rửa mặt, thay quần áo vì đã quá giờ ăn sáng như lão Henry dặn đêm qua.  Trở lại phòng, vừa xỏ chân vào dép thì lão Henry lù lù bước vào:

– Bộ cậu ngủ quên hả?  Nếu muốn ngủ thêm, cứu ngủ nhưng nên cho tôi biết để giữ phần ăn cho cậu chứ!  Còn cả tháng nữa mới đến bến Marseille.  Nhớ nhung, tiểu thuyết, hồi tưởng… là quyền của cậu.  Nhưng nước Pháp không có một con cò đói nào cả.  Mùa đông Âu-châu lạnh thấu xương, cậu sẽ nếm mùi.  Lo mà ăn uống đều dặn, lấy thêm sức để còn học hành.  Đời cậu còn dài…  Xong chưa?  Đi ăn sáng-Bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ không đi gõ cửa cậu nữa đâu!

Dõng đi theo lão Henry xuống phòng ăn.  Dõng ăn bán mì răm-bông và uống cà phê.  Đã sang ngày thư hai, Dõng ăn thứ ăn Tây.  Dõng cảm thấy thèm cơm và dưa cải chua.  Dõng hỏi Henry, bây giờ con tàu đang ở đâu.  Henry rất thạo địa lý, lão nói:

– Con tàu của chúng ta đang lội nước Nam-hải.  Cuối đêm nay, Marseille II sẽ tiến vào eo hiển Malacca.  Cậu có muốn vẫy chào Việt-nam, trước khi đi ngủ.  Cậu nên lên boong tàu quay mặt về hướng mặt trời lặn, khóc rống lên cho thỏa, rồi thôi.  Sáng ai thì quá trễ, cậu chỉ còn vẫy chào Singapore và quần đảo Phillippines – hai quốc gia này không phải tổ quốc của cậu…

***

Marseille II lênh đênh gữa biển cả sang ngày thứ mười bốn và đã vượt qua hai đại dương:  Thái bình dương và đang sắp rời Ấn độ dương để tiến vào Hồng-hải.  Viên thuyền trưởng quyết định dừng lại tại hải đảo Socotra thộc Yemen để ăn mừng lễ Độc lập Pháp 14 tháng 7, đồng thời lấy thêm nhiên liệu và thực phẩm rồi tiếp tục nửa dậm đường còn lại, Marseille II nghỉ mệt tại Socotra hai ngày.  Thủy thủ đoàn và hành khách được lên nghỉ ngơi tự do.  Henry đưa Dõng vào một nhà hàng của Pháp mang tên Gauloise.  Đây là một nhà hàng lớn và lộng lẫy trên hòn đảo chơi vơi này.  Ngoài nhân viên phục vụ người Pháp ra, viên chủ đã mướn nhiều người thuộc thổ dân Yemen.  Song tất cả được dạy rành bốn ngôn ngữ chánh:  Pháp, Anh, Ả-rập và Tây-ban-nha.  Nhiều cô gái chạy bàn người Yemen nhỏ nhắn, da ngăm đen nhưng rất lịch thiệp.  Henry bao, Dõng không phải trả tiền.  Mới ngồi vào bàn Henry “tuyên bố”:

– Cậu biết không?  Hôm nay là ngày “Cách-to Ruy-dết” đánh chết không tội mà!  (Nghĩa là ngày 14 tháng Bảy – lễ Quốc khánh Pháp – thả giàn).  Henry còn mời một anh thợ máy tàu có biệt danh:  “Le-fou-boeuf” (con bò đục điên).  Le-fou-boeuf sinh trưởng tại Le Havre thuộc miền Tây Bắc nước Pháp.  Hắn to lớn, tóc quăn, râu ria vô tổ chức.  Cái khuôn mặt gồ ghề, đầy mụn vết nứt nẻ của hắn trong chỗ để chứa râu.  Râu của Le-fou-boeuf mọc trần cả cổ, mọc luôn xuống bụng.  Hắn có cái giọng ồ ồ và cộc cần.  Hình như trời sinh hắn ra để mà lỗ mãng.  Henry biết tính gã thô bạo này từ lâu.  Rủ Le-fou-boeuf đi ăn tiệc là đẻ gây nhộn cho mâm ăn và để Dõng có dịp cười.  Henry gọi cho Dõng một ly xì-rô rồi quay sang hỏi Le-fou-boeuf:

-Mày uống Bordeaux phải không?

Le-fou-boeuf trả lời:

– Đ.M, mày biết tao quá mà!  Ông đến đây không phải để uống Bordeaux.  Cognac thôi!

Thực đơn Pháp đã từ bao đời trở thành một công-thức bất di bất địch.  Do đó, món ăn Pháp là một trong nhiều đặc thù văn hóa của xứ này.  Trước tiên là thức ăn tươi gọi là khai vị.  Món ăn đầu tiên này thường là rau tươi trộn dấm, trứng và dầu o-liêu.  Sau đó, dần dần cả năm, sáu món kế tiếp.  Cuối cùng là bánh ngọt bảo hạng:  Trứng, bột mì loại một, đường và chất dầu chuối thoang thoảng hương vị mơi mọc.

Henry có vẻ quí Dõng thật sự.  Ông ta bày cách ăn cho Dõng và dặn:

– Hãy còn nhiều món.  Nếu cậu không thích món nào, có quyền đẩy đĩa ra và chờ món khác.  Bửa ăn tối đại lê đêm nay kéo dài nhiều tiếng đồng hồ.  Cậu nên quên mọi chuyện rầy rà.  Tiệc nghĩa là vui.  Tiệc nghĩa là ăn nhậu.  Nếu ai đó muốn khóc, ông ta không bao giờ đi dự tiệc, bởi vì không những gây vô nghĩa cho ông ta mà còn gây ảnh hưởng buồn cho người khác…

Thức ăn được mang đến hơi chậm vì khách quá đông.  Trước khi món khai vị được đưa đến bàn, Le-fou-boeuf đã nốc cạn ba ly cognac rồi.  Henry chỉ nhấm nháp một ly.  Le-fou-boeuf thật tình chưa say, nhưng có vẻ lợi dụng “Cách-tô Ruy-dết”, hắn bắt đầu dở trò.  Hắn bảo Henry cùng hát bài quốc thiều của nước Pháp với hắn.  Giọng bò rống của Le-fou-boeuf giống tiếng thùng thiếc rỗng hơn là sự hùng tráng của quốc thiều.  Xong phùa mở màn, Le-fou-boeuf bắt đầu ăn.  Hắn ăn như chưa từng bao giờ được ăn.  Xoẹt, hắn nghiến-ngấu độ hai phần ba đĩa khai vị.  Le-fou-boeuf ngẩng đầu lên rồi rống:

– Rau trộn chẳng ra cái đếch gì cả.

Hắn nóc tiếp một ly Cognac rồi ném chiếc đĩa sành xuống sàn nhà vỡ tan tành.  Mấy cô bồi gái Yemen xúm lại hốt dọn và năn nỉ hắn.  Le-fou-boeuf vẫy tay bảo các cô Yemen đến sát người hắn.  Hắn dơ ngón tay trỏ gõ gõ vào chiếc mồm đầy râu, dính bơ trông rất nham nhở.  Hắn ra lệnh cho các cô Yemen phải hôn hắn.  Các cô từ chối.  Hai bàn tay như hai chiếc Ê-tô của Lê-fou-boeuf quặp và bốn chiếc mông của hai cô gái Yemen bóp nặn liên hồi.  Hai cô kia la ơi ớ bỏ chạy.

Khúc-Dõng cười sặc cả xì-rô.  Chàng nghĩ:

– À, té ra nước Pháp không phải chỉ Napoleson, Pestain, Henry… mà có vô số những Le-fou-boeuf.  Tại sao Le-fou-boeuf không đi lính Lê-dương mà lại chọn nghề thợ máy?  Rất khó tìm một người tử té trong giới dao búa này.

Chừng nửa buổi tiệc, Le-fou-boeuf, Henry đã ngã say và nói nhảm.  Họ xìa tiền phật-lăng ra để mời mấy cô Yemen đi chơi với họ.  Dõng thấy vài cô gặt đầu.  Trong đám bồi bàn Yemen có một cô gái trẻ nhất và có vẻ thùy mị.  Cô ta vừa dẹp đĩa cũ, thay đĩa mới và hỏi Dõng:

– Anh là người xứ nào vậy?

Dõng trả lời:

– Việt-nam.

Cô ngơ ngác, hỏi vặn:

– Vùng nào?

Dõng mô tả:

– Đó là một bán đảo thuộc miền Đông nam Á châu, gọi là L’Indchine.

Cô ta gật đầu ra điều đã nhận ra:

– Vậy ah là người L’Indochinoise?

Dõng giải thích:

– L’Indochine gồm có ba nước khác nhau.  Đó là:  Việt-nam.  Camboidia và Láo.  Ba dân tộc này thuộc ba chủng tộc khác nhau.  Họ có lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ riêng.  Nhưng Việt-nam là quốc gia lớn nhất, đông dân nhất trên bán đảo này.

Cô Yemen hỏi tiếp:

– Anh đang đi đâu vậy?

Dõng trả lời:

– Tôi đi Pháp để vào trường Cao đẳng.

Cô Yemen thoáng buồn, bưng một chồng đĩa thức ăn thừa quay đi.  Vài phút sau, cô ta đẩy một chiếc xe, đưa thức ăn mới đến bàn Dõng.  Cô đặt hai đĩa thịt chiên vào chỗ của Henry và Lê-fou-boeuf.  Đĩa thứ ba, cô ta nhẹ tay tẩy vào ngực Dõng.

Nhà hàng Gauloise thật khéo chọn nhân viên.  Trong đám bồi bàn người Yemen mà Dõng thấy hôm nay, cô nào cũng duyên dáng, dễ thương, trọn vẹn chất người trong họ.  Cô Yemen liếc chủ, rồi quay lại Dõng nhắc:

– Anh ăn đi – Hai ông pháp kia đã say mèm.  Lát nữa, hai con dê xồm này sẽ đi ngủ với những người bồi bàn.  Còn anh, anh có tự về tàu một mình được không?  Dõng trả lời:

– Chiếc Marseille II thả neo cách đây chỉ ba trăm thước, tôi có thể về phòng một mình.

Cô ta tâm sự:

– Tôi sinh ra trên hòn đảo này.  Ông cố, ông nội và cha mẹ tôi đã sống trên hòn đảo này cả hai trăm năm.  Gia đình tôi không có một giếng đầu nào cả nên phải suối đời đi làm thuê.  Hết cái nghiệp chăn lạc đà đến nghiệp bầu hạ khách thập phương.  Tôi học chưa xong tiểu học thì phải ra đời kiếm ăn.  Chúng tôi theo Hồi-giáo.  Anh có ghét Hồi-giáo không?

Dõng trố mắt:

– Tại sao cô hỏi tôi câu này?  Gia đình chúng tôi theo đạo Phật.  Đạo Hồi ra đời sau đạo Phật không lâu lắm.  Quê hương của đạo Hồi xuất phát tại các nước Ả-rập và miền Tây và Trung-châu.  Đạo Hồi cũng đã du nhập vào xứ tôi lâu rồi.  Tôn giáo là một tín ngưỡng của loài người.  Đó là sự mạnh nha của tự do.  Ai muốn tin tôn giáo nào cũng được.  Tôn giáo có thể thành hình trước Triết học, do đó nên kính trọng…

Cô Yemen tự nhiên ứa nước mặt.  Cô ta không hy vọng chàng trai Á-châu này hiểu rộng đến thế.  Tâm hồn mộc mạc của con gái Yemen là tự do.  Cô cầu mong thánh chúa ban phước cho cô bằng cách được gặp một người chồng lý tưởng.  Người chồng lý tưởng của cô gái Yemen là một người yêu thông minh, hiền và biết kính trọng mọi người.  Cô bất chấp mọi dị biệt dân tộc, chủng tộc và nền văn hóa.  Cô lo sợ lớp người giàu sang.  Đồng tiền đã làm cho họ mất hẳn nhân tính.  Cô gái Yemen tâm sự với Dõng:

– Tên Pháp râu xồm đang say kia, chưa hẳn đã giàu, nhưng hẳn có chút tiền nên có quyền nắm bóp nát bét mông đít các cô gái đồng trinh.  Tôi làm nghề bồi bàn cho cái restaurant này đã hơn hai năm.  Nhưng hành vi khả ố ấy xảy ra mỗi ngày với chúng tôi.  Tôi muốn yêu anh.  Tôi sẽ làm nô lệ cho anh để được yêu.  Anh Việt-nam của tôi, anh nghĩ thế nào?

Dõng bị tấn công bất ngờ.  “Con nai vàng của Đông-dương” gặp lâm nguy, Dõng lắc đầu:

– Tôi còn nhỏ quá, tôi là một tên học trò, tôi chưa biết làm chồng.

Cô Yemen hỏi vặn:

– Mười chín tuổi mà gọi là còn nhỏ quá ư?  Ai giành cái đời học trò của anh đâu!  Nếu anh chưa biết làm chồng, tôi sẽ bày cho anh cách làm chồng.

Viên quản lý nhà hàng đi tìm cô bé Yemen.  Cô ta phải chạy theo cái vẫy ta của viên quản lý người Pháp.

Trời đã khua, Dõng buồn ngủ nhưng không biết làm cách nào để bảo hai tên thợ rượu này đi về.  Hai tên tiếp tục nốc Cognac, càng khua càng hăng.  Dõng định bỏ ra về thì cô Yemen chạy đến.  Cô ta có vẻ buồn, ấn vào tay Dõng một tấm thẻ ghi:

Suphamia Mohamed
Gauloise Restaurant
126 Rue de Golonial
Socotra Yemen…
  Và ghi vội:

“Anh phải viết theo cho tôi.  Nếu anh giả quên, thánh thần sẽ trị tội.  Tôi rất quen với ông Henry, tôi sẽ tìm được anh và lúc đó chưa biết việc gì xảy ra cho chúng ta”.  Cô Yemen phải chạy đi phục vụ bàn khác.

Khúc-Dõng sực nhớ câu châm nguôn của một danh nhân nào đó đã nói:  “Trên mặt trận ái tình, ai chạy trốn là kẻ ấy thắng!”  Dõng hoảng hốt:- Ta chưa bao giờ tuyên chiến với bất cứ cuộc chiến ái tình nào.  Nhưng ta dã thắng trận rồi sao?  Nếu vậy, cuộc chiến thắng này sẽ kết liều đời ta.

***

Marseille II chiều cuối tháng bảy.  Dõng trả trôi giạt qua nhiều biển cả khác tên để cuối cùng được tấp vào một bến bờ xa lạ.  Dưới mắt Dõng, Marseille II như một con quái vật khổng lồ của nền văn minh cơ khí đang độ xuân thì.  Marseille II không cần vàng son; Marseille II trưởng thành trong sắt thép và kỹ thuật tân kỳ.  Marseille II như một cô gái vạm vỡ đa tình nhưng loại đa tình trong kiêu sa, khinh thị.  Dõng đến đích, song chưa phải Marseille II là bờ bến cuối cùng của chặng đường dài mà Dõng đang đi.

Henry đưa Dõng lên bờ và vào sở hải quan Marseille II.  Cả hai gặp ông bà François đang có mặt tại đó.  Henry không có nhiều thì giờ vì ông là người làm thuê cho Viễn Dương.  Henry tự giới thiệu và giới thiệu Dõng với ông bà François.  Henry trao cho ông bà François tấm thẻ địa chỉ và hứa sẽ trở lại thăm.  Anh ta vội vã cáo từ.  Ông bà François trước mặt Dõng là một cặp trí thức hiện đại của nước Pháp.  Họ chững chạc và chân thành.  Họ có vẻ bất cần những trào lưu tư tưởng của đầu thể kỷ 20.  Họ sang say mê chân lý và tôn trọng loài người, không phân biệt màu da hay chủng tộc.  Cặp François nhận Dõng với tu cách giữa người với người.  R. François đỗ tiến sĩ Khoa Vật Lý Nguyên Tử.  Đây là ngành khoa học rất mới của nhân loại.  Nước Pháp của thập niên 30 chưa đủ khả năng để thiết lập một hệ thống Nguyên tử thực dụng.  R. François chỉ dưới 50 tuổi nhưng ông đã viết được ít nhất là ba tác phẩm gây chấn động hoàn cầu:  “Khoa học nguyên tử-Cơn mơ đẹp của loài người”; “Nguên tử sẽ tạo thế quân bình giữa đe dọa và bị đe dọa”; “Nguyên tử và hoài bão của tôi”.  R. François chưa có đất để dụng võ.  Ông vừa tiếp tục viết vừa đi dạy cho vài đại học lừng danh thế giới.  Chừng ấy đã đủ gây bận cho đời ông.  Ba François–Một nữ trung ta, chuyên viên phân tích Khoa học chiến tranh trong bộ Quốc phòng Pháp.  Nhưng Pestain đã đuổi bà bởi vì bà đã gieo lo sợ cho vị thống chế từng mang vinh quang về cho dân tộc Pháp trong thế chiến I.  Bà viết:

“Hitler của nước Đức đệ tam mang ba đặc tính tư tưởng vào chính trường nước Đức hôm nay:  Phục thù, bành trướng lãnh thổ Đức và thống trị toàn thế giới..  Quaab đội Đức dưới tqy Hitler đã lớn như thổi qua đêm và mỗi đêm.  Cuộc chiến thắng của lực lượng đồng minh trong thế chiến I đã dồn nước Đức vào tận chân tường.  Hitler tuyên bố:  Ông ta sẽ không tha thứ bất kỳ ai đã chèn ép nước Đức…  Nếu Hitler tồn tại trong vòng nam năm, nước Pháp sẽ là nạn nhân thứ nhì.  Dù là nạn nhân thứ nhì nhưng nước Pháp  sẽ tan tành trong vòng vài tuần.  Nước Pháp nên chuẩn bị để viết lại lịch sửa của của mình ngay từ hôm nay.  Nước Pháp đã có hàng trăm sư đoàn.  Người Anh đang sát cánh với ta, nhưng khói tài nguyên ấy chỉ được coi như một đám ngựa già.  Bầy ngựa của chúng ta đang gặp cỏ hòa bình và đợi chết.  Chúng ta lạc quan quấ nhiều về một quá kuws gần, nhưng chúng ta lại không tiên liệu những gì sẽ xảy đến trong tương lai gần…

Thời cuộc và tương quang Đức Pháp hôm nay đã chấm dứt giai đoạn vàng son của nước Pháp.  Vinh quang và hệ lụy của một dân tộc, mỗi dân tộc giống như ta thay áo lót mỗi ngày…”

Về đến nhà, ông bà François tặng Dõng bốn táp phẩm kể tên.  Dõng có vẻ như những con chuột đói sa vào hũ nếp.  Cuộc sống quí phải của giới thượng lưu Phap không giống như hoàng tộc Việt-nam.  Họ đang nhún đu giữa Hegel và Marx.  Nước Pháp tự do:  Một nửa là tự o đi chinh phục, nửa kia là dung túng cho loạn “tả phái” hoành hành.  Dõng thi nhập học với tỉ số cao.  Chàng sinh viên Việt-nam muốn chọn Triết nhưng không được.  Phòng Admission khuyên Dõng nên chọn ngành Khoa học thực dụng với lý do là tỉ số Khoa học trong kỳ thi, Dõng đạt điểm khá cao.  Trong thời kỳ chờ trường khai khóa, Dõng có dịp đi thăm quang cảnh Marseille II.  Marseille II có vô số những công viên xinh đẹp với những bức tượng bằng đồng đã ri hoặc những khối điêu khắc bằng bê tông.  Dưới bóng răm thái bình kia, Dõng thấy nhiều cuộc diễn thuyết công khai.  Cảnh sát Pháp phải bảo vệ cho các cuộc tuyên truyền ấy.  Nhóm ta phái lợi dụng nền tự do để tuyên truyền cộng sản.  Họ đọc lời tuyên ngôn Marx và thông báo những chiến thắng của Leenin sau “Cách mạng thắng Mười”.  Đây là lối sinh hoạt chính trị lạ tai của “Con nai vàng Đông Dương” như Dõng .Chúng diễn thuyết mỗi ngày.  Ngoài Dõng ra, đám thính giả toàn những người ăn mày và bọn bất lương thích nghe tuyên truyền đỏ.  Trong giới ăn mày và bất lương của nước Pháp lúc bây giờ không thể giải thích là đám người nạn nhân của xã hội mf là thành phần “đầu trâu mặt ngựa”, lũ bất lương ăn cướp ngân hàng và bọn “tráo bài ba lá”.  Dõng nghe chiếc loa bằng Pin (hiệu búa liềm) như nghe những lời tiên tri.  Chính trưòng Pháp sau năm 1920 là một chính trương tự do không giống ai:  Thự dân và cộng sản.

Là con nai vàng ngơ ngác giữa rừng đời đầy cạm bẫy, Dõng vốn ghét thực dân, gây ra tủi nhục cho dân tọc anh, anh cho đám tuyên truyền luowfg gạt kia là có lý.

Mùa hè nam 1934, Dõng vừa trải qua năm thứ nhất Đại Học Marseille II, bất thần ông Henry và cô Linda từ Toulouse đến thăm.  Họ mời Dõng về Toulouse sống với họ qua hè.  Linda không phải là cô gái vô nhan sắc như ông Henry mô tả.  Linda trước mắt Dõng là một cô gái đoan trang, to lớn và nghiêm nghị.  Cô ta có vẻ đẹp khỏe mạnh toát ra từ tâm hồn của một thiếu nữ Âu Chhau.  Lồng ngực no tròn, căng cứng sinh lực.  Gặp môi mọng yêu đương.  Đôi mắt lớn như thâu tóm cả nhân bản lẫn ái tình vào hai khối nhãn cầu màu xanh ấy.

Linda nhìn Dõng rồi mỉm cười.  Cô pha trò- anh chắc là đã học lịch sử dân tộc Gauloise?  Anh hiểu họ được bao nhiêu phần trăm?  Con người sinh ra để yêu thương và nếu không phải thế, chúng ta có mặt trên trái đất này để làm gì?  Câu hỏi này của tôi không bắt buộc anh phải trả lời ngay.  Khi nào thuận tiện sẽ hay nhuwng đừng quên câu hỏi ấy.

Ông Henry lắc đâu sau khi Linda hết lời.

 Dõng xin phep ông bà François để đi Toulouse liền được họ đồng ý.

Thằng bé Sarlo và con bé Diamond – con của ông bà François bịn rịn:

– Anh Dõng!  Anh không thích ở đây với chúng tôi nữa sao?

Bà François trả lời:

– Anh Dõng đi hè rồi sẽ trở lại Marseille II.Thằng Sarlo dặn Dõng:

– Nếu anh có dịp đi Paris nhớ mua về cho em một cây súng liên thanh của Hitler nghe anh?

Dõng xoa đầu bé Sarlo rồi bảo:

Tôi sẽ mua về cho em thứ đồ chơi nguy hiểm ấy.

***

Gia đình Henry ở ngoại ô tỉnh Toulouse.  Lối kiến trúc giống như một nông trại.  Ngồi nhà sè cánh gà núp dưới khu vườn rợp bống phong hu, liễu chen lẫn vài cây thông cổ thụ già nua.  Nữa phần phía trước dùng để ở.  Nửa phần phía sau lf một trại gà cả ngần con.  Vừa mở cửa sau là nghe tiếng gáy te te, tiếng oang oác, cục tác của xã hội “điều cầm”.  Nhiều giỏ cần xé chứa đầy trứng gà đang đợi xe đến bốc đi.  Nhiều bao tải thức ăn cho gà chứa chật một nhà kho.  Một sân tơ-nít và một hồ bơi.  Những bôn hoa hồng trổ muộn…  Tất cả vẽ lên một bức tranh phóng túng, không cần nguyên tawsc đối xứng gò bó nào cả.  Ông Henry vắng nhà chừng 8 tháng mỗi năm.  Gia đình Henry chỉ có hai người thường trực, đó là bà Henry và cô bế Linda.  Gia đình có vẻ quạnh hiu nếu không có tiếng khua động của lũ gà.  Linda đang sống trong một khu rừng cô đơn.  Con một năm nữa thì xong khóa học y tá hai năm, song nàng chưa có quyết định nghề nghiệp rõ ràng.  Sau khi tốt nghiệp, nàng sẽ ở nhà nuoi gà với mẹ hoăc sẽ xin một  nghề trong một văn phòng bác sĩ nào đó.  Nghề nghiệp đối với nàng chưa phải là vấn đề số một trong lúc này.  Là lứa tuổi đang khát vọng yêu đương, Linda nhìn Dõng như nhìn một người trong mộng.  Tự nhiên nàng lại nghĩ rằng, nếu Dõng về nước hoặc ngã yêu một cô gái nào đó, đời nàng sẽ trở nên vô nghĩa.  Nàng đưa Dõng đi xem hát, trèo núi và bơi lội mỗi ngày trong chiếc hồ” của gia đình.  Bà Henry rất quí Dõng.  Bà phàn nàng, bà không phải là người đàn bà may mắn nhất trần gian.  Dõng hỏi:

– Thưa bà, bà có thể cho cháu biết bà đx không toại nguyện những gì thuộc về ước mowccura đời bà?Bà Henry cười trước mặt mọi người nhà của bà:

– Tôi ước mong ít nhất sẽ có một đứa con trai nhưng không bao giờ có.  Nối vâng không phải là tôi khong quí con gái.  Tôi yêu quí Linda, naag niu nó như  nâng niu những chiếc trứng gà.

– Ông Henry chen vào:

Thì đây, bà có thể xem cậu Dõng như con trai mình được không?

– Bà quay sang Dõng:- Cháu có muốn ở lại đây với chúng tôi để tiếp đi học cho dến khi ra trường được không?  Việc chuyển trường chẳng phải là việc phức tạp ở nước này.

Dõng cảm thấy rất dễ chịu khi đến nghĩ hè tại gia đình Henry.  Chàng bị gò bó bởi  lẽ nghi của gia đình François, một gia đình quí tộc không hợp với tâm tình của một thằng bé nghèo Việt-nam, có mặt cảm tự đi.  Dõng thưa:

Để tôi xin phép ông bà François và viết thư hỏi ý kiến cha mẹ tôi ở bên nhà.  Nếu học đồng ý, tôi nghĩ đây là lý tưởng nhất dể tôi nương tựa.

Sáng hôm sau Linda đưa Dõng đến sở bưu điện gởi hai bức điện tín, một cho ông bà François, một cho cha mẹ và Dì chàng bên nhà.  Bà François trả lời:

– Sự quyết định của cậu không phải là chuyện lớn.  Chúng tôi đồng ý nhưng sẽ thường xuyên liên lạc với cậu và ông bà Henry.  Thằng nhóc Sarlo sẽ mất cậu.

Một tuần sau thì ông bà Khúc-Thừa đánh điện trả lời:

– Con đang gặp may mắn.  Cha mẹ và Dì chỉ ngại con còn khờ dại quá, không khéo sẽ bị cuốn hút theo những trận cuồng phong nguy hiểm mà thôi.  Liên lạc đều về gia đình.  Thái An khóc mãi vì nhớ mày…

Ông Henry lại  lên đường đi Á châu.  Bà Henry và Linda gởi một số quà cho gia đình Dõng.

Một ngày đầu tháng 9, một lá thư lạ đến địa chỉ gia đình Henry nhưng tên Khúc-Dõng.  Trên góc trái của phong bì là tên của một người đàn bà  Á Rập, thuộc xứ Yemen.  Linda tò mò bóc thư xem thì đây là một bức thư tình của cô Mohammed gởi Dõng.  Linda giận sôi gan.  Hôm ấy là ngày thứ nhất của Dõng tại đại học Toulouse.  Khi vào nhà, Linda hạch Dõng ngay:

– Anh có người yêu Ả Rập mà anh chẳng hề nói với tôi…

Dõng sửng sốt:- Tôi có người yêu Ả Rạp khi nào, ai?Linda giáng một cái tát tóe lủa vào mồm Dõng:

– Anh tìm cách chối phải không?  Đây bằng chứng rành rành Linda dúi lá thư vào tay Dõng.

Dõng cười xòa:- Linda, cô đừng quá nóng.  Đời tôi chưa hề biết nói láo với bất cứ ai.  Hơn một năm trước, khi tôi trên đường đi Pháp trên con tàu Marseille II, hôm ấy vào ngày quốc khánh Pháp, Marseille II thảo neo tại đảo Socotra.  Bác Henry đưa tôi vào một cửa hàng ăn của Pháp có tên Gauloise.  Dịp đó, tôi bất chợt gặp một cô gái người Yemen – người bồi gái làm việc cho cửa hàng Gauloise.  Bác Henry và một ông thợ máy tên “Le-fou-boeuf” say mèm, tôi thì buồn ngủ.  Trước khi tôi tìm về tàu một mình, cô Suphania dúi cho tôi một tấm thẻ địa chỉ, bảo tôi viết thư cho cô ta…  Nói đến đó, Dõng tìm trong bóp đựng giấy tờ kéo ra một tấm thẻ đã ngả màu vàng.Linda đọc rồi hỏi vặn Dõng:

– Tại sao cô ấy biest anh đang ở nhà tôi?

Dõng trả lời:- Tôi dâu có biết!  Có lẽ bác Henry trên đuuờng đi Á châu ghét lại Gauloise rồi cho cô ta địa chỉ này chăng.  Cô có đọc lời dặn của Suphania trong tấm carte đó chưa?Linda đọc lại một lần nữa rồi mỉm cười.  Bất thần, Linda đứng dậy sà vào người Dõng và đặt một chiesc hôn cháy môi.  Linda âu yếm xin lỗi và khẩn khoản:

– Anh có thể tha thứ hành động nóng nảy của em vừa rồi được không?  Em sẽ đền cho anh cả cuộc đời…

Dõng kèm cho Linda thêm về hóa học hữu cơ.  Ngành y không thể thiếu môn này.  Linda có vẻ yếu cả hữu cơ lẫn vô cơ.

Mỗi đầu tháng, Dõng đi rút tiền để trả ăn.  Bà Henry từ chối, bà đùa:

– Tôi không biết làm cơm Việt-nam.  Cháu nên tập ăn bánh mì, thịt gà chiên và trứng.  Ba loại thức ăn này tôi chưa thấy đã giết chết ai.  Tôi không lấy tiền cháu đâu.  Để dành cho lâu lâu đưa tôi và Linda đi ăn tiệm…

Dõng sống thoải mái với gia đình Henry cho đến năm 1936.  Năm ấy chính trường nước Pháp đột ngột đổi thay.  Leson Blum thuộc mặt trận Cộng hòa Bình dân lên cầm quyền, nước Pháp đã trở thành diễn đàn ồn ào nhất bởi bọn dỏ hoành hành.  Một hôm, Dõng nhận được một như mời của cái gọi là “Hội sinh viên Việt-nam” mời anh gia nhập hội.  Dõng tưởng cái hội ấy chỉ là một hoạt động của những người đồng hương Việt trên đất Pháp mà thôi.  Lần đầu Dõng đi Paris.  Cuộc hợp được tổ chức trong một cư xá rẻ tiền đầy nghẹt những người da đen hỗn tạp.  Họ sặc ra mùi chính trị Bolshevicks.  Anh chủ tịch hội là một sinh viên văn khoa.  Không rõ anh viết lách thế nào, nhưng anh ta diễn thuyết coi bộ rất rẽ tiền.  Giọng nói nhát gừng, rời rạc như cơm nguội.  Khi anh ta nói tiếng Pháp, mấy gã Tây ngáy khò khò.