Monday, August 20th, 2018 8:14:45 am

Chương 3 – Lạc Đường

Vào cuối năm 1939, Đức Quốc Xã sau khi thôn tín Tiệp Khắc đã lăm lăng Ba Lan.  Quân Đội Đức của Hitler đã đè bẹp Ba Lan trong vòng hai tuần.  Trong hai tuần lễ, quân Đức đã tàn sát 6 triệu 6 trăm ngàn người Ba Lan, trong số đó có 600 ngàn quân đội.  Cả thế giới kinh hoàng, cảm nước Pháp lên con sốt.  Năm ấy Dõng đang là một bác sĩ thực tập lấy bằng Tiến sĩ Y khoa:  Giải phẫu và Tâm lý.

Bắng 1940, cả thế giới đang chuẩn bị đại chiến II chống phát xít Đức.  Mùa hè 1940, Khúc-Dõng nhận mảnh bằng Tiến sĩ Y khoa và rời trường.  Ngoài đường phố Paris đã lũ được tản cư về miền Nam Pháp.  Từng đoàn phụ nữ Pháp tập khổ nhục bằng cách chạy bộ hàng chục cây số để khi giặc đến có thể chạy thoát thân.  Trai trẻ nước Pháp từ 18 đến 40 phải vào quân đội.  Các nhà thương, bác sĩ, xe cộ, tàu bè bị trung dujg.  Nhiều binh đoàn Lê Dương Pháp, cá binh đoàn thuộc địa Bắc Phi, Việt-nam được huy động về Pháp.  Những binh đoàn thuộc địa gọi là “Infantrie Coloniale Divisions” đang rầm rập trên đường phố nhất là miền biên giới Pháp Đức và binh thành Paris.  Cũng giống như số phận của thanh niên Pháp, các thanh niên thuộc địa điều phải phục vụ chiến tranh bảo vệ “Mẫu quốc”.  Dõng bị động viên và huấn luyện quân sự căn bản hai tuần rồi phong thiếu úy.  Vị thiếu úy này được bổ sung về lộ quân miền Đông Bắc giáp Đức.

Một biến cố khác đã xảy ra cho gia đình Henry.  Marseille II mà ông Henry làm việc bị chính phúc trung tạp.  Henry phục vụ trong đoàn Dương vận hạm thuộc quân lực Pháp.  Marseille II là con thoi chuyên chở vũ khí, thực phẩm và quân đội về Paris.  Ngay ngày đầu tiên, khi một hừng đông kinh hoàng đã xảy ra cho dân tộc Pháp:  Quân Đức tràn quan biên giới bằng nhiều mặt trận.  Marseille II của Henry bị tàu ngầm “U” của Đức đánh chìm trên vùng Bắc Đại Tây Dương.  Linda và bà Henry không đủ nước mắt để khóc và họ cũng chẳng biết nơi nào để đi.  Lúc này Linda mới thấm thí số phận của những dân tộc bị trị, Linda càng yêu Dõng hơn bao giờ hết.  Nàng bàn bạc với mẹ rằng:  “Mẹ đã già cứ việc ở đây.  Miền Nam nước Pháp là chiếc đáy cuối cùng rồi”.  Dàn xép vội việc nhà, Linda lên đường tòng quân, nàng mang đau thương ra chiến địa.  Đến phòng tuyển dụng Toulouse, Linda được nhiều người hoan nghênh.  Nàng ra một điều kiện:

– Hải đưa tôi đến phục vụ cho lộ quân miền biên giới, nơi có bác sĩ thiếu ý Khúc-Dõng đang làm việc tại đó.  Họ đán điện về Paris và sau đó bổ sung Linda về với bệnh viện đã chiến của Khúc-Dõng.

Về phí quê Dõng, tình hình cũng rói rằm không kém.  Đọc lời tuyên bố của quan toàn quyền Đông Pháp cùng với Dụ của Việt-nam Hoàng đế Bảo Đại có đoạn:

“… Nay đại Pháp lại giao chiến với nước Đức.  Cuộc chiến tranh nà giống như cuộc chiến tranh trước cốt để bảo toàn nền công lý và tự ảo.  Nước Đức đã thất bại 21 năm trước vừa khôi phục, lại manh tâm muối đi cướp thiên hạ.  Vừa thôn tính Tiệp Khắc rồi lại muốn khuất phục nước Ba Lan.  Nếu cứ dể cho chúng hoành hành thì rồi chúng sẽ chiếm đoạt cả Đông Âu và Tây Âu, đặt bá quyền trong thiên hạ.  Liệt cường Âu Tây như nước Pháp và nước Anh không thể điềm nhiên để cho chúng thi hành âm mưu xâm lược đó.  Hai nước Anh Pháp bảo đảm cho nước Ba Lan được độc lập, đã dùng hết cách điều đình trong ổn thỏa vẫn không được, nên nay phải lấy võ lực để đối phó với kẻ bọn tàn…

… Dân tộc Pháp đều một lòng sắt đá và tin cậy vào năng lực của đại tướng  Pestain, hiện Quốc Trưởng.  Ngày xưa đã trắng trận Verdun và là danh tướng đã giúp cho Pháp nhiều phẹn…”

Dõng đọc tiếp một bài thơ kêu than từ bên hà gỏi sang:

“Bấy lâu sinh sự hoành hành,
Chiếm xong ấu Tiệp tại giành Ba Lan
Kể sao xiết, nỗi hung tàn,
Giết người cướp của dã man vô cùng.
Pháp Anh ha nước một lòng,
Dụng phò công lý chẳng dung cường quyền…”

Bức điện tín cuống cùng Dõng nhận được từ gia đình, bức điện ghi tóm tắt:

“Quân Nhật đã đổ bộ vào Đông dương!  Phi trường Đà-nẵng chứa nghẹt cả phi cơ “O” của Nhật!  Đoàn kỵ binh Nhật có mặt khắp quê ta!  Đây có thể là bức điện cuối cùng!  Giờ này con đang ở đâu?  Quân Đức sắp tràn qua đất Phát nay mai.  Con nên liệu lấy thân con.”

Bức điện tín thư mang theo tiếng khóc của ông bà Khúc-Thừa đến với Dõng.  Quả vậy đây là lời từ biệt cuối cùng.

Linda được bổ sung về một bệnh viện đã chiến tiền phương cách sông Meuse chừng 10 cây sống.  Nàng gặp lại người yêu trong kinh hoàng.  Nàng ôm choàng Khúc-Dõng khóc tức tưởi, nấc lên từng hồi.  Vì đây là lần đầu tiên nàng gánh chịu nhiều biến cố xảy ra cùng lúc, Linda chào đời cũng trong một đại chiến, song thuở ấy nàng chưa biết gì.  Khi nàng lên ba, nước Pháp tưng bừng trong hào quang chiến thắng.  Nàng sống trong yêu thương của nước Pháp thái bình suối 21 năm,  Đùng một cái, chiến tranh ập vào giấc mộng hoa của nàng.  Tổ quốc nàng đang bị xâm lăng.  Cha nàng chết không lấy được xác, mẹ nàng sống hẩm hiu như một kiếp gà mái về già.  Người yêu đã trở thành viên thầy thuốc trong lửa đạn.  Nàng nghĩ:

– Dõng đang cứu người.  Nhưng khi đến lượt Dõng, ai là kẻ cứu anh?  Nhưng thôi! trong khói lửa ngút trời, thì giờ đâu để suy tưởng những chuyện đã qua cũng như những chuyện sẽ đến.  Ta đang đối diện với một hiện tại khốc liệt ngoài sức tưởng trong của con người.

Nàng lau nước mắt, khoác chiếc aqso trắng như  khoắc chiếc áo tang vào người rồi bắt tay vào nhiệm vụ.  Viên giám đốc bệnh viện đã chiến – Bác sĩ thiếu tướng Renault chào nàng nụ cười mỉm.  Ông có vẻ rất bình tỉnh, sáng suốt phi cơ Đức điên cuồng ném bom, ông chững chạc như một người đã biết trước những tai biến tất nhiên, thương tình trong mọi cuộc chiến tranh.  Bác sĩ thiếu tướng Renault ra lệnh:

– Từ giờ này, cô thuộc quyền điều khiển của bác sĩ Thiếu ủy phòng mổ Khúc-Dõng.  Mong cô hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp!

Lia một loạt từ ngữ vào Linda và Dõng, vì bác sĩ đầu bạc phơ quay lưng và đi nhanh vào khu vực chứa la liệt hàng ngàn chiến thương đang rên la.

Chiến lược phòng thủ của Pháp rất hãnh diện về hệ thống chiến lũy Maginot của mình.  Đó là một phòng tuyến gần như bất khả xâm phạm của các chiến lược gia quân sự lỗi lạc của nước Pháp trước đại chiến I.  Nhờ nó mà Pháp và lực lượng đồng minh đã đầy lui quân Đức và giành chiến thắng trong đại chiến 1914-1918.  Chiến lũy Maginot là một hệ thống phòng ngự kiên cố dọc theo biên giới từ bắc Thụy-sĩ đến Lục Xâm Bảo dài 200 dặm, đầy 10 bộ, sâu 100 bộ ngầm dưới đất.  Pháp đã tốn chừng 200 triệu Mỹ kim để hoàn thành công trình phòng thủ tối tân này.  Nên nhớ rằng, một nhân công xây dựng cho công trình quân sự được lãnh giá cao với 3 đô la mỗi ngày vào thời kỳ tiền đệ nhất Thế chiến.  Nền khoa học nói chung và khoa học quân sự nói riêng đã tiến quá nhanh.  Sự tiến bộ kia mang hai kết quả:

1.  Phủ nhân một trường phái chiến lược quân sự chưa cũ trở nên lỗi thời.

2. Trường phái quân sự cực mới của người Đức đã bí mật phát triển, khiến cho các thế lực quân sự hùng mạnh lúc bấy giờ như Anh, Pháp phải tìm trong cơn ác mộng.

Ngày 10 tháng 5, 1940 Đức đã thanh toán Hòa Lan, sau đó là Bỉ trong vòng một tuần.  Lực lượng đề kháng của Hòa Lan tìm cách chống trả.  Hitler đã ra lệnh phải thanh toán ngay càng sớm càng tốt.  Thành phố Rotterdam đã bị không lực Đức san bằng chưa đầy mười lăm phút.  Đó là những trận dọn đường của quân Đức để tiến vào lãnh thổ Pháp.

Hitler đã chọn những viên tướng loại một để tung vào chiến trường Tây Âu.  Họ thành lập ra những tập đoàn quân (goi là Group A hoặc B).  Tướng Erich Von Manstein tập toàn A đưa 30 sư đoàn vào Hòa Lan.  Và sau đó tướng Heinz Guderian chỉ huy lộ quân Thiết giáp và bộ binh cơ giới Đức bao vây lực lượng Anh, Pháp tại Bỉ và cho bảy Sư đoàn thiết giáp vượt sông Meuse để tiến vào đất Pháp như chẻ tre.  Pháo đài Maginot bị chọc thủng.

Viên tổng tư lệnh quân lực Pháp tướng Maxime Weygand tường trình lên chính phủ rằng mặt trận Somme đã thất thủ.  Thủ tướng Reynaud vừa lên thay thủ tướng Edouard Daladier tuyên bố “Chúng ta sẽ cố thủ mặt trận Paris”.  Lời tuyên bố ấy vẫn còn nóng hỏi dư âm, thì viên Thủ tướng Paul Reynaud đã bỏ Paris chạy về  Tours, sau đó chạy thẳng đến  Bordeaux.  Và đến ngày 14 tháng 6, 1040, ông vượt English Channel để sang Anh, bỏ nước Pháp lại cho vị thống chế già 84 tuổi – thống chến Henry Pestain làm gì làm.  Gần nữa triệu quân chủ lực Anh-Pháp chạy về Dunkirk để chờ vượt biển sang Anh.  Lộ quân thiết giáp của tướng Đức Guderian, nhât là sự đoàn kỳ 7 của tướng Erwin Rommel đã tiến đến bao vây Boulogne, Calais đặt Dunkirt trong tầm pháo.  Trên đường di tản gồm có thường dân Pháp, quân đội lạc bầy và xe ngựa hốt hoảng chạy về phía nam.  Thật tình, trong cuộc chạy trốn này không có phương tiên: xe đạp, xe bò, xe hơi, tàu bay và luôn cả chạy bộ… xuôi về phương nam nước Pháp.  Thổng chế Pestain chẳng còn gì để  cứu dân tộc Pháp cả.  Ông chỉ còn lại sự sùng bái của dĩ vãng-một dư âm anh hùng.  Ông tìm cách cứu vãn nước Pháp với hai bàn tay mang hai con số “0” vĩ đại.  Lúc này ngài mới sực nhớ lại lời nữa phân tích gia chiến tranh François bảy năm về trước là đấng tiên tri.  Song đã quá trễ rồi.  Bài học của vị cứu tin nước Pháp năm 1940:  “Đừng bao giờ say sưa trước hào quang và từng nên tự phụ”.  Không còn gì để lên mặt ngày 14 tháng 6 năm 1940, Pestain đã đề nghị với Hitler một cuộc ngưng chiến trong khi quân Đức đang bao vây Paris có nghĩa là đầu hàng.  Hitler khóc rống lên, khuôn mặt nhạc độc tài rực lửa, cặp mắt vốn dữ dội càng dữ dội hơn.  Hắn gầm lên vì sung sướng, vì Pháp đã đầu hàng.  Sau hiệp ước “Armistic”, Đức quốc xã chiếm đóng nữa phần bắc Pháp và dọc theo bờ Đại Tây Dương.  Nửa phần nam Pháp còn  lại giao cho Pestain thành lập “chính phủ tự trị” đống đô tại một phố nhỏ gọi là Vichy.

Trong khi đại quân Anh Pháp tháo chạy về Dunkirk, Anh đã huy động 850 tàu thuyền lớn nhỏ vược eo biển Anh, giải thoát độ 350 ngàn cả Anh lẫn Pháp.  Người Anh bỏ lại phía sau 40 ngàn quân.  Pháp còn lại 60 sư đoàn, cố gắng thiếp lập tuyến phòng thủ mới lại Somme.  Su khi giải quyết xng trận Dunkirk, Đức tập trung 130 sư đoàn bộ binh cơ giới và nhiều quân đoàn thiết giáp pháp vỡ phòng tuyến Somme.  40 sư đoàn Pháp bị tiêu diệt, lực lượng còn lại bỏ chạy tán loạn.

Bệnh viện đã chiến của Dõng đưa thương  binh Pháp về phía sau Somme cũng tan tác.  Trên đường di tản, Linda tìm cách góp nhặt chiến thương la liệt hai bên đường .  Nàng bị máy bay Đức Dọi bom chết, không đẻ lại một dấu vết nào cả.  Viên bác sĩ trẻ Việt-nam đã dành một giây im lawjg hướng về nơi bom vừa nổ để tiễn biệt người tình vừa quá cố!  Hai dòng nước mắt, một mối duyên đầu…  Chiến tranh Đức Pháp kết liễu.  Dõng tiếp tục nhiệm vụ của người thầy thuốc.  Bệnh viện Dõng chuyển về phía nam.  Qua một tháng hãi hùng, Dõng không bị thương nhưng mang một vết thương lòng không bao giờ lành.  Dõng xin đi phép về Toulouse đẻ thăm bà Henry.  Tội nghiệp, chỉ trong vòng một tháng  mà trông bà già đi cả mười năm.  Bà đang ngóng đợi Linda trở về, bà chưa hề hay biết Linda đã tử trận.  Dõng biết rằng không thể dấu một tin quá hệ trọng, chàng phải cho bà Henry biết ngay.  Ra sao thì ra, Dõng không thể làm khác hơn được.  Khi Dõng báo tin đau đớn ấy, bà Henry đã té xuống, ngất đi.  Khúc-Dõng đưa bà vào một bệnh xá gần đó.  Suốt một tuần bên cạnh, bà Henry dần dần bình phục.  Bà bảo Dõng đưa bà đến Somme để hôn mảnh đất có máu của con gái bà đổ xuống.  Dõng từ chối.  Bà vừa khóc vừa xin lỗi Dõng về sự tang tóc điêu linh của dân tộc Việt-nam do sự xâm lăng của người Pháp gây ra ở thế kỷ trước.  Bà kết luận:

– Tai họa luôn luôn trút xuống đầu những người dân vô tội, trong đó có Việt-nam và Pháp.  Còn và mẹ hôm nay cũng đều là nạn nhân của lũ người đầy tham vọng và mất hẳn tính người kia.

Dõng xin phép bà Henry để đi thăm quanh nhà một lượt.  Khi bước vào phòng riêng của Linda ngày trước.  Dõng bị xúc động mãnh liệt.  Chàng hôm lấy ngực, nước mắt tuôn ra không sao nén được.  Dõng cung trước tấm hình lớn của Linda vừa chụp trước khi lên tòng quân để tặng mẹ.  Bức hình ghi lại một nét u hoài trên khuôn mặt, không còn giống như khuôn mặt yêu đời chứa đầy mơ mộng vài tháng trước đây của nàng.  Chàng đi rất chậm quanh phòng.  Những kỷ vật ngày qua hãy còn nguyên vẹn: một bàn phấn, một kệ sách nhỏ, một tủ áo và một tập album ghi lại hình ảnh thuở ấu thời  và suốt 21 mùa xuân mọng cho đến khi nàng tòng quân.  Nàng đã phóng lớn cỡ 11×14 cm tấm hình chụp chung với Dõng vào năm 1936 được đặt chính giữa bàn viết của nàng.  Một chiếc giường cá nhân gọn và trải nệm trắng ngay ngắn.  Mùi hương trinh nguyên của người thiếu nữ vẫn còn phảng phất, lưu luyến đâu đây.  Bất chợt Dõng bước ra khỏi phòng, khép nhẹ cửa lại.  Chàng thấy bà Henry đang sửa soạn bữa cơm chiều.  Dõng xin phép bà đ ngoài một lát.  Độ tiếng đồng hồ chàng trở lại với hai lọ pha lê cắm sẵn nhiều đóa hoa hồng tươi.  Chàng đượm buồn khi thưa chuyện với bàn Henry:- Thưa bà, cháu chẳng có gì để tặng, ngoài hai lọ hoa này.  Một cho bà và một cho Linda…  Cháu xin đa tạ lòng tốt của bà suốt sáu năm qua.  Cháu kính cẩn trước linh hồn của người quá cố.  Linda đã tát và mặt cháu vào mùa hè năm 1934 – cũng sáu năm về trước, khi nàng ghen tức với một cô gái Yemen đã viết thư cho cháu.  Chuyện xảy ra không ai biết ngoài Linda và cháu.  Sau khi biết hết sự thật, Linda đã khẩn khoản xin lỗi cháu.  Nàng hứa sẽ đền cho cháu cả cuộc đời và nàng đã làm vậy…

Dõng chưa hết lòng, bất thần bà Henry ngã vào người Dõng khóc nức nở, hai lọ hoa trong tay Dõng suýt rơi nhưng chàng kèm giữ được.  Bà hôn tới tấp lên trán Dõng, có lẽ bà nghĩ là bà đang hôn đứa con gái độc nhất của bà.

Dõng thưa tiếp:

– Xin lỗi bà, cháu không thể ôm cả ba lọ hoa cùng lúc.  Ngài mai cháu sẽ mua thêm một lọ nữa để tưởng nhớ bác Henry, bác là an nhân của cháu.  Hình ảnh bác Henry đã chiếm một phần trong trái tim ân tình của cháu cả ngày qua và mãi mãi mai sau.

Bà Henry nhắc Dõng:

– Cháu đưa lọ hoa vào phòng cho Linda.  Cháu muốn đặt nó ở đau?

Dõng trả lời:

– Cháu nghĩ sẽ đặt trên bàn viết của nàng.  Trên bàn viết của Linda có tấm hình bán thân chụp trước khi nàng ra đi để chẳng bao giờ trở lại.

Bà Henry gật đầu rồi lại òa lên khóc.  Lần này bà khóc tiếng to, tiếng khóc đau thương của bà Henry vọng ra ngoài.  Trời Toulouse đã sập tối tự bao giờ.

Cuộc chiến chớp nhoáng Đức Pháp từ mở màn đến kết liễu chỉ vừa một tháng.  Thế mà chiến tranh đã làm cho nước Pháp kiệt quệ.  Thực phẩm rất khan hiếm, phương tiện rất tồi tàn, điện không đủ thắp sáng trọn đêm.  Người dân Bắc Pháp lánh cư về Nam đông nghẹt.  Tuy hiệp ước đầu hàng đã ký, chính phủ Vichy đã thành ình nhưng họ nghi ngờ chiến tranh chưa phải đã kết túc thực sự.  Bên kia eo biển nước Anh, thủ tướng mới của nước Anh Churchill tuyên bố:

“Chúng ta sẽ đánh đến cùng.  Chúng ta sẽ chiến đấu trên đất Pháp.  Chúng ta sẽ đánh Đúc trên biển cả và trên khắp các đại dương.  Chúng ta sẽ bảo vệ tổ quốc của chúng ta bằng mọi giá.  Chúng ta sẽ chiến đấu trên các bãi biển, chúng ta sẽ chiến đấu trên khắp mặt trận, mọi đường phố, mọi ngọn đồi; chúng ta không bao giờ đầu hàng”

Nguyên văn:

“We shall go on the end.  We shall fight in France, we shall fight on the seas and oceans…  We shall defend our Island, whatever the landing ground, se shall fight in the fields and in the streets, we shall fight in the hills; we shall never surrender.”

Tưởng Charles de Gaulle vừa chạy được sang London liền kêu gọi toàn dân Pháp đứng dậy chống Đức trong mặt trận kháng chiến dưới quyền lãnh đạo của ông.  Rõ ràng, Thế chiến II chỉ mới trong giai đoạn mở màn.

Bữa cơm tối hôm ấy bà Henry và người đàn bà Pháp chăn gà cho bà, rô ti một con gà, một đĩa đậu đũa và xà lách, một ít Format và một đĩa bánh mì đen.  Họ không có rượu vang ăn tối như trước nữa.  Mỗi người một tách trà nóng.  Thế thì thịnh soạn lắm rồi.

Trong bữa cơm tối hôm ấy bà Henry có vẻ vui mừng vì được Dõng còn sống trở về thăm bà.  Ngoài lý do ấy, bà không còn gì để mừng cả.  Bà nhắc Dõng:

– Khi chiều cháu kể chuyện giữa Linda và cháu chưa xong.  Hãy kể tiếp đi.

Dõng nói:

– Nếu Linda không vì yêu cháu, có lẽ nàng chưa chết.  Cũng như hàng triệu đàn bà Pháp khác, Linda có quyền chọn một vài công việc phục vụ ở hậu phương.  Song vì nàng đi tìm cháu ngoài tuyến đầu để sống chết có nhau.  Nàng là một thiếu nữ dũng cảm.  Nàng thương xông pha dướ bom đạn để cứu thương binh.  Nàng được thiếu tướng bác sĩ Renault chỉ định về việc dưới quyền cháu.   Nàng cười luôn ngày, có lẽ được sống với cháu chăng?  Ăn uống như nhau, nhưng nàng lúc nào cũng hâm cho cháu một ly trà nóng vì nàng biết cháu thích uống trà.  Cái chết của Linda đã gây cho tâm hồn cháu một vết thương trầm trọng không thể chữa trị.

Người đàn bà Pháp giúp việc cùng ăn với họ.  Ba ta khóc nấc lên.  Bà đứng dậy đến ôm bà Henry và bà không muốn ăn nữa.

Bà Henry kể lại vói Dõng:

– Ngày được tin cháu bị bổ sung về lộ quân biên giới, Linda khóc ngất.  Con bé không chịu ăn uống gì cả.  Một ngày trước khi Linda tòng quân, con bé đi phố chụp hình rồi mua về ch tôi một chiếc nhẫn có khắc chữ “L”.  Linda bàn vội với toi là nàng không thể ở nhà được với mẹ.  “Me cứ ở đây chờ chúng con về”  …Song con bé đã thất hứa với mẹ, nàng không trở về…

Nói đến đó, bà Henry lại ôm mặt khóc.  Một bữa cơm đoàn tụ quá buồn.

Sau khi lau nước mắt, bà Henry hỏi Dõng:

– Cuộc chiến tranh Đức Pháp dựa theo pháp lý đã kết thúc rồi.  Kể từ lúc này, tôi nhận Dõng là con trai nuôi.  Ngày mai mẹ và con sẽ ra chính quyền quận ký giấy xác nhận.  Con nên xin giải ngũ ngày!  Mẹ không còn gì để đánh mất nữa.  Hai sinh mạng cho nước Pháp cộng hòa thế là quá đủ.  Con về đây với mẹ, xin một việc làm nào đó ở các nhà thương quanh đây.  Một bác sĩ lúc này đừng lo việc làm.  Con có quá nhiều việc phải làm.  Đợi đến khi trời quang, mây tan, chúng ta sẽ cố gắng lên liên lạc với ông bà bên nhà.  Con nghĩ sao?

Dõng đồng ý.

Bà Henry nói thêm:

– Ngay từ hôm nay, phòng ngủ Linda đã thuộc về con.  Con ngủ trong ấy, làm việc trong ấy.  Con là người bảo quản di vật ấy giùm mẹ.  Khi con chưa về, mẹ buồn quá đã nghĩ đến chuyện bán ngôi nhà này.  Nhưng nay ba con và Linda trong chốc lát đã ra đi.  Di vật còn lại chỉ là ngôi nhà tồi tàn này.  Mẹ không phải người đàn bà bất nghĩa.

Dõng còn một tuần nữa thì phải trở lại đơn vị.  Chàng thưa với bà xin đi Marseille để thăm gia đình François.  Bà Henry không có lý do ngăn cản.  Bà chỉ khuyên:

– Đi rồi về ngày với mẹ.  Suy nguy hiểm đang bủa vây cuộc sống chúng ta.

Dõng đáp chuyến tàu hỏa sáng.  Bốn tiếng đồng hồ sau, chàng đã đứng trước ngưỡng cửa của gia đình François.  Marseille hôm nay ồn ào, phức tạp hơn bảy năm về trước nhiều.  Dân miền Bắc tản cư đang sống tạm trong các thánh đường, trường học, vỉa hè và các công viên.  Thành phố Marseille bị rác rến bao vây.  Họ nấu nướng bất cứ chỗ nào.  Bọn tả phái còn đông hơn ruồi nhặng Marseille.  Chúng không dám diễn thuyết nữa vì mật vụ Đức Gestapo cũng đầy rẫy không kém.

Trong bộ quân phục bộ binh có gắn lon thiếu ý, Dõng gõ cửa ngôi biệt thự rất im lặng.  Phải đợi chừng hai phút sau mới nghe tiếng lách cách bên trong.  Bà François mỏ cửa, theo sau bà là thằng bé Sarlo.  Bà François đã quên Dõng.  Cậu bé Việt-nam 7 năm về trước còn ngờ nghệch, rụt rè, nay cơ thể lẫn tinh thần của cậu học sinh ấy hoàn toàn đổi khác.  Dõng cao lớn, vạm vỡ và phong cách nghiêm trang hơn.  Bà François không nhận ra nên hỏi:

– Ông là ai?

Dõng thưa:

– Thưa bà, tôi là Khúc-Dõng đã sống với ông bà trọng năm 1933-1934.  Bà còn nhớ tôi không?

– Ồ!  Cậu Dõng.  Xin mời cậu vào ngay cho!

Ngoài đường phố, trước ngôi biết thự lảng vảng vài anh Gestapo trong binh phục Pháp.  Lũ mật thám Đức không bỏ qua bất cứ một tiếng động nào ngoài giấc mộng và sự suy tư của dân tộc Pháp.

Bà François cũng già thạt nhanh khiến Dõng không ngờ.  Sự quắc thước, cử chỉ tự tôn của một nhà phân tâm thời cuộc đã không còn.  Chỉ còn lại một người đàn bàn ngũ tuần bình thường.  Trên nét mặt bà chứa đựng nhiều nét lo âu.  Bà không biết hoặc có lẽ không còn thì giờ để săn sóc cho mình.

Bé gái Diamond nay đã lớn.  Nàng bưng một ly trà hai tách ra để mẹ nàng tiếp khách bà François bảo:

– Con chào anh Dõng đi!

Bé Diamond nạc nhiên đến gần Dõng dè dặt:

– Chào thiếu úy Dõng.  Ông có khỏe không?

Câu chào xã giao của cô bé Pháp hồn nhiên năm nào chứa đựng cả một trời ngờ vực.  Thời đại đã cướp mất niềm tin giữa người với người.

Bà François đưa tách trà mời Dõng:

– Anh kể vội tô nghe.  Bây giờ anh đang làm gì?

Dõng thưa:

– Thưa bà, vừa mới tốt nghiệp bác sĩ y khoa, tôi bị gọi vào quân đội.  Cái lon thiếu ý của tôi chẳng nói lên được gì cả.  Nhưng đây là chứng tích được nói lên rằng, tôi không phải kẻ hèn quay lưng lại trong bối cảnh được  nói lên rằng, tôi không phải kẻ hèn quay lưng lại trong bối cảnh nước Pháp lâm nguy.  Tôi đang phục vụ tại một bệnh viện miền trung Pháp quốc thuộc quyền chính phủ Vichy.  Sau khi sống sót trở về, tôi không thể quên những ân nhân cũ của tôi.  Việc ghé thăm ông bà hôm nay được biểu lộ cả một nền triết lý dài dòng của dân tộc tôi – triết lý:  Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa của Khổng Tử.  Thưa bà, giáo sư François đâu rồi?

Bà François đứng dậy hôn vào trán Dõng trước khi bà bắt đầu:

– Anh không phải là cậu thiếu niên Việt-nam hoàn toàn gặp may mắn.  Cái may của anh là vừa tốt nghiệp bác sĩ y khoa và anh đã không tử trận.  Việc anh bị gọi vào quân đội, đó là điểm không may mắn gì.  Cảm ơn anh được sống sót.  Nhưng con đường dài chúng ta đang dị bị bủa giăng toàn cạm bẫy.  Anh nên cẩn thận thêm cho.

Nhà tôi bị mất tích hai tuần trước đây.  Ông ấy tự lái xe một mình đến một nhà in gần đây.  Chồng tôi không trở về.  Sau đó hỏi ra thì ông ta đang bị bắc cóc bởi những kẻ lạ mặt.  Anh biết chứ?  Cuộc chiến này đang tiếp diễn khốc liệt hơn.  Chồng tôi là một nhà nguyên tử học.  Có lẽ họ đang cần ông.  Song sự hy vọng sống còn quá mong manh.  Tôi đã lấy lại chiếc xe riêng của ông ấy về nhà.  Sự tìm tòi của tôi trở nên vô ích.  Tôi biết ông, François đang sống trên đất Đức.  Mật thám Đức đang bủa vậy tôi.  Anh uống vội trà đi và nên rời khỏi nơi nầy.  Tôi hy vọng gặp lại ah sau khi đại chiến kết liễu.  Xin đừng viết tự.  Chúng ta đang sống trong hiểm nghèo.  Bọn Gestapo đang theo dõi tôi ngoài cửa.  Tạm biệt anh!

Dõng không thiết ăn, mặc dầu anh đang đói.  Viên bác sĩ lấy vé để trở lại Toulouse.  Anh sống trong buồn tủi với bà Henry thêm sáu ngày nữa.  Giấy phép đã hết hạn, anh lên tàu trở về đơn vị.

Dõng viết đơn xin giải ngũ.  Anh phải đợi cả tháng mới được công văn trả lời.  Bức công văn rât do dự vì họ không muốn cho Dõng giải ngũ.  Họ gởi cho Dõng một huy chương chiến công anh dũng hạng nhì.  Dõng phải viết đơn khẩn khoản lên bộ chiến tranh Pháp.  Một tháng  nữa đợi chờ.  Cho đến một, Dõng nhận được nghi định giải ngũ, anh mừng ré lên.  Anh cởi bộ binh phục trả lại cho quân đội.  Họ bảo anh nên giữ chúng để làm lưu niệm.

Tháng 9 năm 1940, Dõng mang ba lô trở về với bà mẹ nuôi ở Toulouse.  Anh còn vài trăm quan Phật-lăng trong túi áo.  Bà Henry đón Dõng như đón một anh hùng.  Bà khoe:

– Tao vừa nhận được một huân chương “Anh Dũng bội tinh” cho Linda.  Tao chưa trang hoàng, đợi mày về.  Dõng đem chiếc huân  chương gắn vào tấm ảnh của Linda.

Bà Henry hôn lên chiếc huân chương ấy, bà nói:

– Tấm huân chương nào chả có mặt trái của nó, phải không con?

***

Tâm hồn người Việt rất sắt son và chung thủy.  Đạo nghĩa đối với họ đã trở thành lẽ sống.  Dõng được hấp thụ nền luân lý ấy.  Mang ba Tâm hồn Dõng khong phải đang là mặt nước hồ thu.  Đời chàng đang bão tố dữ dội.  Dõng mất liên lạc với gia đình bên nhà đã hơn tám tháng.  Việt-nam, tổ quốc chàng cũng  đang trong bình lửa can qua.  Những ân nhân và tình nhân và tình nhân của chàng nay không còn nữa hoặc họ đang gặp lâm nguy.  Đó là những biến cố ngoài tầm tay với của Dõng.  Song chàng tìm cách làm những gì chàng có thể làm.  Chờ cho tâm hồn ổn định một tuần, Dõng đi xin việc.  Đến một bệnh viện tư, cách nhà bà Henry độ năm cây số, họ nhận ngay.  Dành dụm được ít tiền còm sau khi giải ngũ, Dõng mua một chiếc citroen cũ, hai ngựa để làm chân đi làm.  Bà Henry mừng ứa nước mắt.  Một hôm bà thấy Dõng xập xệ quá, bà lại có ít tiền vừa bán trứng, bà bảo Dõng:

– Con đưa mẹ đi phố sáng nay.

Dõng hỏi:

– Mẹ cần gì dưới phố?

Bà Henry trả lời:

– Mẹ không được khỏe.  Xuống phố con chọn mua cho mẹ ít thuốc.

Khúc-Dõng mừng và tiếp lời mẹ:

– Ừ, con nghĩ thế.  Mẹ cần thuốc trợ sức.  Mẹ hao tổn quá nhiều và sức khỏe mẹ xuống dốc quá nhanh.

Xuống phố, Dõng dùng xe trước một Pharmacy.  Bà Henry xua tay:

– Lát nữa đã.  Bâ giờ mẹ muốn đi phố mua vài thứ cần khác.

Dõng đưa bà Henry xuống trung tâm thương xá Toulouse.  Bà trỏ tay bảo Dõng đậu xe trước một cửa hàng bán quần áo.  Bà sờ mó những bộ đồ dạ đàn ông đắt tiền.  Bà ngắm nghía màu.  Dõng không hiểu bà đang làm gì nhưng không tiện hỏi.

Bà giở sổ ra ghi bảy màu khác nhau của những bộ đồ lớn đàn ông.  Gian hàng áo quần hiệu “Paris mode” rất vắng khách.  Trong chiến tranh, dân Pháp cần vàng và thức ăn hơn quần áo.  Xong bà đến quày trả tiền.  Bà biết số đo của Dõng rất rành, không cần hỏi Dõng.  Người phục vụ mang đến bảy bộ đồ lớn khác màu rất sang trọng.  Dõng nhận ra, bà mẹ muôn đang định mua quần áo cho chàng.  Dõng thưa:

– Mẹ định mua áo cho chăng?

Bà Henry trả lời:

– Ừ, mục đích đi phố hôm nay của mẹ chỉ có thể, Con là bác sĩ, đồ đạc của con trong bệ rạc quá coi sao được?

Dõng không biết nói sao, chàng hôn lên má bà để thay lời cám ơn.Dõng ghé lại Pharmacy chọn mua cho bà một thuốc sinh tố trợ lực rồi lái về.

Bà Henry và Dõng đã thử gởi nhiều bức điện tín về gia đình Dõng.  Tất cả đều mất hút không thấy hồi âm.  Sớm đi, tối về, Dõng làm việc cho bệnh viện “Paix” gần hai năm.  Năm 1942, lực lượng Đồng Minh bắt đầu phản công.  Mặt trận tại Nga “kéo râu đỏ” của Hitler đã khựng lạ cách Mạc Từ Khoa chừng vài trăm cây số.  Hàng ngàn oanh tạc cơ Anh đêm đêm vượt đất Pháp để vào đất Đức dọi bom.  Hitler bị đánh trả túi bụi.  Hắn vội vã cho xây bức tường “Đại-tây-dương” dọc theo chiều dài nước Pháp lên tận miền Bắc Âu.  Hitler cần hàng triệu nhân cong.  Đức lùa cả người Đông Âu lẫn Tây  bị chiếm vào công trình ghê sợ này.  Một buổi sáng mùa hè 1942, ha tên sĩ quan SS Đức ập vào bệnh viện “Paix” để tìm Dõng.  Họ lễ độ trong sát khí đắng đằng:

– Ông là bác sĩ Dõng?

Dõng đáp:

– Vâng!

– Chúng tôi được lệnh đến mời bác sĩ giúp nước Đức của Fuhrer một tay.

Dõng hỏi:

– Quí vị cần gì ở tôi?  Tôi là một bác sĩ y khoa!  Tôi không biết bắn súng đâu.

Viên sĩ quan SS mang lon đại úy trả lời:

– Fuhrer không cần người biết bắn súng.   Bác sĩ sẽ giúp chúng tôi bằng nghề nghiệp của ông làm.  Cả bệnh viện Paix ngơ ngác.  Họ biết bác sĩ Dõng sẽ không bao giờ trở lại với họ nữa.  Viên giám đốc bệnh viện nói được tiếng Đức, ông yêu cầu hai viên sĩ quan SS:

– Hãy hượm, chúng tôi phải trả tiền cho vị bác sĩ này.

Viên kế toán người Pháp mang tiền ra cho Dõng và đặt bản thanh toán lương trước mặt Dõng nhờ ký tên.

Khúc-Dõng yêu cầu mấy tên Đức đi theo chàng trở về nhà gặp bà Henry, giao xe lại cho mẹ trước khi đi.  Họ làm theo lời yêu cầu của viên Bác sĩ.

Hai tên sĩ quan SS giục:

– Yêu cầu bác sĩ nhanh lên!

Dõng vác hành lý ra chiếc xe nhà binh 4×4.  Xa xa, thành phố Toulouse đã lên đèn.  Xe rồi máy, Dõng đứt ruột khi nghe tiếng khóc tiễn chân của bà Henry vọng đuổi theo xe cho đến khi chàng không còn nghe được nữa.

Một biến cố mới lạ bắt thần ập đến với đời chàng.

***

Chiếc xe 4×4 của SS Đức đưa Dõng đến một ngôi trường trung học Pháp để chuyển sang đoàng Convoy quân sự đang nối đuôi nhau đợi sẵn tại đó.  Đoàn Covoy có mui bằng vải bạt, chật ních người.  Phía sau thành xe, hai tên SS võ trang đầy mình ngồi chắn ngang người kia.  Thỉnh thoản, tên SS quét vài tia đèn pin để kiểm soát.  Đoàn xe chuyển bánh từ 12 giờ khuya và trực chỉ hướng tây – bắc.  Họ ngủ tựa vào nhau, những người buồn tiểu phải tiểu bậy ra làm nghe ai phàn nàn.  Đoàn Convoy chạy suốt đêm.  Sáng hôm sau đoàn xe dừng lại tại Nantes để đoàn người ăn sáng và được 15 phút làm vệ sinh cá nhân rồi trở lên xe tiếp tục cuộc hành trình.  Đết Brest vào lúc 5 giờ chiều và đây là địa điểm khổ sai của họ.

Lực lượng SS Đức liền chia họ ra từng toán nhỏ, đưa vào những căn nhà khác nhau.  Cảnh tượng rất lạ mắt.  Trên mặt đất là những ngôi biệt thự thấp, sang trọng.  Bao quanh các ngôi biệt thự là vườn cây và hoa.  Bọn SS Đức dẫn số người bị bắt xuống hầm, ngụy trang sâu cả chục thước trong lòng đất.  Một toán sĩ quan SS Đức bắt đầu gọi từng người một, chụp hình và thâu hồi tất cả giấy tờ tùy thân.  Thẩm vấn tiểu xử xong, mỗi người được cấp một tấm chứng minh thư mới bọc nhựa.

Dõng được đưa đến một căn hầm mênh mông, điệ sáng choang và có vô số giường bệnh nhân bắt sắt.  Anh có cảm tưởng đây là bệnh viện dã chiến.  Nhiều người bị thương đang nằm với nhiều băng bó khác nhau: gãy chân, gãy tay, bể mặt…  Một viên bác sĩ người Đức đến gần Dõng nói bằng tiếp Pháp:

– Chào bác sĩ Dõng.  Anh là người xứ nào?  Tôi là bác sĩ Himler.

Dõng trả lời:- Chào bác sĩ Himler.  Tôi là một bác sĩ Việt-nam tốt nghiệp Y khoa Pháp hai năm về trước.

Himler mỉn cười:

Tốt, bắt đầu từ hôm nay, anh sẽ làm việc với tôi.  Tôi biết anh tốt nghiệp khoa giải phẫu.  Nước Đức rất cần anh.  Đây là một bệnh viện tiền phương hỗn hợp cả dân lẫn quân.  Chúng ta sẽ làm việc không ngơi tay.  Chúng ta đang có cả triệu bệnh nhân.  Họ từ đầu đến?  Anh không được phép tò mò.  Bây giờ anh đi theo tôi.

Bác sĩ Himler dẫn Dõng  đi dọc theo hành lang đến một phòng nhỏ vừa là nơi làm việc vừa là phòng ngủ.  Dụng cụ Y khoa gồm nhiều hộp nhỏ mạ kền và các dụng cujquang học khác.  Một tập dầy cộm hồ sơ bệnh lý.  Xong, Himler gọi một tùy viên đưa Dõng đến hầm ăn.  Dõng nuốt vội vàng vài khoanh bánh mì đen, một hộp thịt nguội và một lý nước lạnh, rồi bắt đầu làm việc.

Bác sĩ Khúc-Dõng làm việc dưới “địa ngục” này cho đến tháng 6 năm 1944, khi quân đồng minh mở màn cuộc phản công thanh toán Nazi.  Sau nửa đêm, trên bờ biển Normandie rực lửa.  Tiếng đại bác nổ lên hồi như sấm sét.  Hừng đông, hàng trăm chiến đấu cơ oanh tạc cơ Anh Mỹ phong tỏa bầu trời miền duyên hải Pháp.  Sắt thép trút  xuống bức tường  “Đại Tâu Dương”.  Gần trưa, Dõng nghe máy phát thanh từ London loan tin:  “Quân đồng minh đã chọc thủng bức tường Đại Tây Dương và đang tiếng sáu vào miền Trung Pháp hai mươi dặm.”  Bác sĩ Khúc-Dõng đi tìm bác sĩ Himler, hắn đã biến mất tự bao giờ.  Trong nguy biến, Dõng quyết định thoát thân.  Anh chui ra khỏi căn hầm tử thần rồi lẫn trốn vào một khung rừng thông.  Tại  vùng Brest, quân đồng minh chưa đến, song đã hiện diện những đơn vị chính qui Pháp thuộc lực lượng giải phóng của tướng De Gaule.  Họ đang đánh nhau với lực lượng SS Đức.  Khúc-Dõng nằm trốn trong khu rừng hoang cho đến tối.  Độ 7 giờ đêm, Dõng phóng ra đường trực chỉ phương nam.  Hễ khi thấy ánh đèn xe hơi, Dõng lập tức biến vào bụi rậm.  Đêm thâu, Dõng lặng lẽ đi, bắt chợt có một ngôi nhà còn đèn leo lét.  Anh vào để xin nước uống hoặc tìm cái gì ăn.  Đây là một gia đình dân chài.  Họ đang lúi húi nấu ăn.  Một ông già  trạc 60 tuổi, người Pháp ra mở cửa.  Họ đang sợ hãi.  Cả bà nâu bếp và cô con gái độ 18 tuổi đều vác dao bầu chạy ra.  Khi họ nhận thấy Dõng là một thanh niên hiền, da vàng, họ yên tâm.  Chỉ chiếc ghế nệm rách bảo Dõng ngồi xuống, họ đang chờ nghe kẻ lạ mặt muốn gì.  Dõng nói ngay:

– Thưa ông bà, tôi là bác sĩ tốt nghiệp 4 năm về trước tại trường Y khoa Toulouse.  Tôi phục vụ trong quân lực Pháp tại mặt trận sông Meuse.  Tôi bị SS Đức bắt và cưỡng bách phục vụ tại một nhà thương Brest suốt hai năm nay.  Sáng nay, quân đồng minh đã đổ bộ lên Normandie, tôi chạy trốn.  Suốt cả ngày tôi không có nước uống…

Cả nhà mừng lên vì người thanh niên da vàng kia không phải là kẻ thù của họ.  Cố gái Pháp 18 tuổi đưa đến cho Dõng một tách trà nóng.  Bất thần, đằng sau chiếc tủ áo trống rỗng, vỡ toang kiếng chặn một góc bức tường động đậy.  Từ sao chiếc tủ áo lách ra hai người.  Người lách ra trước là một trung niên Pháp, râu ria tràn cả mặt và cổ, quần áo lôi thôi dơ bẩn.  Đi theo sau là hai gã thanh niên , mặt mũi chẳng ra gì khiến Dõng nổi da gà.  Gã râu xồm vừa đi vừa lườm Dõng rồi tiến sát đến chỗ Dõng ngồi.  Gã cất cái giòng ồ ồ quen quen mà Dõng đã từng nghe một lần đầu đó.  Song trong trường hợp căng thẳng này chẳng ai có thể đủ thời giờ lục tìm trí nhớ.  Hắn hỏi:

– Có phải cậu là Dõng đã đáp chuyến tàu Marseille II từ Việt-nam sang Pháp 11 năm về trước?

Dõng trả lời:

Đúng , tôi là Dõng và ông là ai?

Gã râu xồm cười rung râu mép:

– Cậu còn nhờ người thợ máy tàu Marseille II msng tên Le-fouboeul?  Tôi là Le-fou-boeul đây.

Dõng đứng dậy bắt tay.  Hai người thanh niên vênh tai nghe Le-fou-boeuf và Dõng nói chuyện.  Một trong hai thanh nhiên đứng nép bên cánh cửa chính nhìn ra ngoài, có vẻ như canh chừng

.”Le-fou-boeuf” kể chuyện:- Tôi và hai gã thanh niên kia thuộc lực lượng kháng chiến Pháp.  Tôi đã thôi vệc thợ máy tàu từ khi chiến tranh Đức Pháp bùng nổ và đi kháng chiến “bí mật”.  Chúng tôi vừa nghỉ tại gia đình này từ tối qua.  Sáng ngay, trong khi núp trong rừng, bất ngờ thấy một chú bò con chạy lạc.  Chúng tôi đã thịt nó, hai người nhà đang nấu bếp sắp chín.  Đây là cuộc tái ngộ bất ngờ quá hay.  Anh định đi đâu?

Dõng trả lời:

– Tôi định về nhà bà Henry, mẹ nuôi của tôi.  Sau đó sẽ tính nên đi đâu.  Chiến tranh đang tái diễn khốc liệt quá, không rõ cuộc chiến sẽ kéo dài đến bao giờ.  Tôi rất cô đơn, gia đình tôi ở Việt-nam và nước tôi cũng đang lâm chiên.  Tôi mất liên lạc với gia đình gần năm năm nay…

Le-fou-boeuf cắt ngang:

– Bà Henry nào?  Có phải bà vợ của ông quản lý tàu Marseille II?

– Đúng, Dõng trả lời.  Tôi học ỏa Marseille II một nswm thì ông Henry và cô con gái của ông ghé thăm và đưa tôi về Toulouse nghỉ hè.  Năm ấy là năm 1934 – mười năm về trước.  Bà Henry là người đàn bà tốt, giống như mẹ tôi bên nhà.  Bà và con gái tên Linda khuyên tôi nên ở lại với gia đình và đổi trường.  Được gia đình tôi bên nhà đồng ý, tôi đã sống với họ suốt 6 năm cho đến khi tôi tốt nghiệp, rồi chiến tranh xảy ra.  Ông Henry đã chết ngay ngày nào đã bị hải quân Đức đánh chìm ngoài khơi quê bác – La Havre.  Cô Linda yêu tôi và côn xin tòng quân, năm ấy Linda đã tốt nghiệp trườ Y tá.  Tôi bị động viên và đeo lon Thiếu úy quân y trong quân lực Pháp.  Tôn xin giải ngũ vào mùa thu năm 1940 sau khi chiến tranh Đức Pháp ngừng chiến.  Tôi về ở hà với bà Henry và xin được việc làm tại bệnh viện Paix, bất thần bọn SS Đức đến bắt đi và đưa đến phục vụ tại bãi biển Brest…

Le-fou-boeuf cắt ngang lần nữa:

– Hãy hượm, anh…

Mới vừa đặt chưa xong câu hỏi gái 18 tuổi của gia đình này nổi cáu, gắt Le-fou-boeuf:

– Ông có căm mồm một chút được không?

Cô ta quay sang Khúc-Dõng hỏi:

– Bác sĩ Dõng , thế chị Linda đâu rồi?

Dõng kể tiếp:

– Ồ, cám ơn cô, suýt nữa tôi quyên.  Khi ghi tên tòng quan, Linda yêu cầu đưa cô đến phục vụ cùng đơn vị với tôi tại lộ quân miền biên giới.  Linda làm nhiệm vụ cứu thương.  Linda bị mấy bay Đức ném bom chết cách chỗ tôi đứng chỉ vài trăm thước.  Thi hài Linda chẳng còn gì cả.

Nói đến đó, Dõng lục tìm trong ví lấy ra chiếc anh nhỏ của Linda tặng Dõng khi anh tốt nghiệp đưa cho cô gái.  Cô gái nhìn kỹ tấm hình, cô ta cắn môi rồi òa lên khóc.  Mẹ cô ta đờ lấy tấm ảnh ngắm nghía rồi hôn lên má con gái mình.

Ông chủ nhà chen vào:

– Xin mời cậu ở lại đây với chúng tôi vài hôm.  Nếu có quân Đức đến, chúng tôi có cách để bảo vệ cậu như mấy người này.  Câu chuyện còn dài, bây giờ tất cả nên ăn cơm tối đã.

Bà chủ nhà và cô con gái  đi dọn bữa.  Ông già đi ra vườn sao đào bới gì đó.  Lát sau ông đưa vào hai chai rượu chát Bordeaux.  Rượu Bordeaux càng chôn dưới đất lâu năm càng quí.  Có vẻ gia đình này quí người khách lạ.

Đúng như Le-fou-boeuf khoe, bữa tối ấy toàn thịt bò tơ.  Họ làm bít-tết nấu la-gu với cà rốt…  Rau tươi, cà chua mà đã bốn năm qua Dõng không được ăn bữa nóng nào thịnh soạn như đêm nay.

Hình như đã có sự  phân công, một anh thanh niên đứng ngoài cửa quan sát bên ngoài.  Anh ta vào ăn sau khi anh kia ăn xong.  Le-fou-boeuf có vẻ như viên chỉ huy.

Trong bữa ăn, cô gái chọn chỗ ngồi sát Dõng có lẽ cô ta muốn hỏi chuyện thêm.  Thật thế, cô hỏi tiếp:

– Bác sĩ Dõng, từ đây đến Toulouse rất xa, ông tin là ông sẽ đi bộ đến đó?

Dõng trả lời:

– Trong cảnh chim sổ lồng, tôi chưa kịp suy nghỉ điều ấy.  Trong cơn bấn loại ai cũng hành động như cái mấy.  Người ta sẽ đối phó từng trường hợp một.  Nếu không còn phương tiện nào tốt hơn đi bộ, tất nhiên tôi phải đi bộ.

Le-fou-foeuf hớp rượu rồi lắc đầu:

– Anh ở lại đây với chúng tôi, chiến tranh sẽ kết liễu nhanh trong năm nay hoặc năm sau.  Hitler đang thua trận…

Khúc-Dõng  cắt ngang:

– Nhưng tôi phải về thăm mẹ tôi trước đã.

Cô gái 18 tuổi bây giờ mới giới thiệu tên cha mẹ và chính cô:- Đây ba tôi, Henry Marela và mẹ tôi Janice Marela và tôi Renée Marela.

Ông bà Marela đứng dậy bắt tay Dõng và rót một chút rượu mời Dõng, Dõng nâng ly và chúc gia đình bình yên.  Renée thưa với ba mẹ nàng:

– Nếu ba mẹ đồng ý, con sẽ đưa anh Dõng đi Toulouse.  Nếu anh Dõng ở lại dưới ấy với bà Henry, con sẽ trở về một mình.

Bà Marela suy nghĩ vài giây rồi nói tiếp:

– Mẹ thấy không có gì trở ngại.  Mẹ quí anh bác sĩ trẻ này, một con người thủy chung.

Ông Marela nói tiếp:

– Ba cũng nghĩ vậy.  Ba sẽ biếu anh Dõng ít tiền để làm lộ phí, nhưng để Dõng nán lại đây ít hôm cho lại sức đã chứ!

Renée mừng và thưa:

– Thì con chỉ bàn đến khi anh ta quyết định lên đường thôi.  Anh Dõng muốn ta giúp đỡ gì, xin ba mẹ nên làm trong khả năng  có thể.

Ăn xong, ông Marela đưa Dõng đến chiếc tủ bằng gỗ dựng ở góc nhà.  Ông nhấc nhẹ chiếc tủ rồi kéo nó ra xa tường một chút.  Bên sau chiếc tủ là một cánh cửa gỗ sơn màu trắn hợp với bức tường.  Ông dùng đèn bấm mở cánh cửa rọi vào trong.  Phòng có hai tầng.  Tầng ngang mặt đất có vài chiếc giường xếp bằng vải.  Một chiếc thang bốn nấc dựng nghiêng gác lên từng trên.  Oonb ta giải thích:

– Nếu uân Đức ập đến bất ngờ, anh sẽ theo chúng tôi vào đây.  Tôi khóa cửa lại và đẩy chiếc tủ áo, trám cánh cửa lại.  Ở bên trong, các anh nên dùng thang leo lên từng trên rồi rút chiếc thang lại.  Trong trường hợp quân Đức phá cánh cửa, hãy bình tĩnh đặt chiếc cầu thang đầu đằng kia để nhẹ nhàng leo xuống.  Nghe ngóng động tĩnh bên ngoài, nếu bọn Đức tìm cách leo lên tầng trên thì phía sau có cánh của…  Mở nhẹ cửa sau, nếu vườn sau yên tĩnh, các anh chạy ra và lẫn vào khu rừng thật nhanh.

Dõng cảm thấy mệt mỏi và xin một chỗ nằm.  Ông Marela đích thân đưa Dõng vào một căn phòng, có giường và một tủ áo.  Trước khi ra khỏi phòng, ông Marela dặn Dõng:

Khi có động dụng, anh đừng quên xách hành lý theo anh.

Ông Marele chúc Dõng ngủ ngon.Sáng hôm sau, thức giấc sớm cả nhà cũng đã thức dậy từ lâu.  Dõng hỏi tình hình.  Qua radio, họ cho Dõng biết là quân đồng minh tiếp tục đổ bộ.  Các binh đoàn đồng minh tìm cách cắt đôi miền Trung Pháp rồi tiến về phía Đông Bắc.  Chiến sự đang diễn ra ác liệt.  Thường dân Pháp nườm nượp chạy về phía Nam.  Tàu hỏa và xe đò chật ních người.  Bác sĩ nên nán lại đây đợi tình hình khả quan hơn rồi sẽ đi Toulouse.  Bây giờ thì chưa tiện.

Gia Đình Marela được hai đứa con.  Cậu con trai đầu tên Martine đã bỏ nhà đi theo lực lượng kháng chiến bí mật chống Đức từ năm 1942.  Suốt 2 năm trong ngóng, họ chẳng được tin tức gì cả.  Cách đây sáu tháng, vào một đem mưa, một toán người lạ mặt gõ cửa.  Ông Marela lo sợ dòm ra ngoài thì một tốp gồm ba người ăn mặc khác nhau, ướt như chuột lột.  Tất cả đều có súng tiểu liên Pháp và lựu đạn quanh hông.  Họ đập cửa lần nữa, ông Marela do dự mở cửa.  Người đi đầu với cái giọng ồ ồ hỏi:

– Đây có phải gia đình ông Marela không?

– Phải.  Ông Marela trả lời và đợi nghe tiếp họ muốn gì, nhưng ho chỉ nói:

– Xin để chúng tôi vào nhà rồi sẽ nói chuyện quan trọng với ông sau.

Họ vào nhà.  Việc trước hết, mỗi người mở chiếc bọc vải bằng nhựa ra, lấy đồ khô thay.  Ông Marela đưa họ ra sau mái hiên chứa lưới đánh cá của ông để họ thay áo quần.  Ông Marela bị bà Marela và Renée vặn hỏi là ai, tại sao để họ vào nhà và họ muốn gì.  Ông Marela nhún vai:

– Họ có súng, tôi không thể làm khác được.  Tôi cũng không biết họ thuộc tổ chức nào và họ muốn gì.  Một điều chắc chắn họ là người Pháp, họ không thuộc lực lượng chính qui.  Có lẽ họ là dân quân.

Thây quần áo xong, cả ba mang súng và hành lý vào trong.  Việc thứ hai họ hỏi:

– Gia đình có gì ăn không?

Bà Marela trả lời:

– Chúng tôi chỉ còn ít cá hộp Sardine và ít trứng luộc thôi.  Các ông có thẻ ăn với bánh mì thô.

Họ gật đầu và nói:

– Chúng tôi chỉ ăn một ít lương khô (bột gạo trộn đường) từ mờ sáng, rồi lột rừng suốt 12 tiếng đồng hồ.  Chúng tôi đã hỏi độ bốn gia đình khác nhau nhưng đều không phải gia đình Marela, bây giờ thì đúng rồi.

Bà Marela búng cho họ ba chiếc đĩa.  Trong đĩa có ít xà lách trộng dấm và trứng cắt làm ba.  Hai khúc cá Sardine và ba lát bánh mì đen.  Renée đưa đến họ ba tach trà nóng.  Cả ba mừng quýnh lên.

Cả gia đình Marela đều nóng ruột chờ nghe họ nói chuyện.  Song cả ba cắm cổ ăn không thèm nói gì.  Kiểu ăn của họ có vẻ như ăn cho bỡ ghét.  Cô Renée hồn nhiên nhìn họ ăn nẩy ra thắc mắc.  Tính tình người Pháp rât bộc trực khó để trong lòng như người Việt-nam.  Co ta tìm cách bắt chuyện:

Thì tôi nghe ông vừa nói, sáng nay ông có ăn chứ.  Bột gạo trộn đường đâu tệ.  Vừa ưn vừa nói chuyện có trở ngại lắm không?  Nhìn quý ông ăn, tôi có cả tưởng quí vị đã nhịn đói suốt năm năm nay, kể từ khi Đức xâm lăng nước ta…

Bà Marela bấm nhẹ con gái, ngầm bảo đừng sỗ sàng làm họ phật ý.  Gã già nhất trong toán vừa nhai nhồm nhoàm vừa cất giọng ồ ồ:

– Ăn rất quan trọng.  Không ăn làm sao nói?  Chỉ vì cái ăn mà đã mà ra cả.  Cả nhà, cả bọn bật cười.

Gã du kích già nói thêm:

– Bà cho tôi đĩa nữa, chúng tôi sẽ bắt đầu kể chuyện.  Ông có rượu không?

Ông Marela lắc đầu.

Bà Marela làm cho họ ba đĩa thức ăn thứ hai.  Họ mừng rỡ ra mặt.  Vừa ăn gã d kích già bắt đầu:

– Tôi tên là Tigre.  Thằng nhỏ ngồi kết bên tôi tên Dernier và thằng kia có tên “C”.  Chữ “C” là một phụ âm, nhưng đó là tên của hắn.  “C” nghĩa là communiste và C cũng có nghĩa là Cochon (cộng sản hoặc heo) hiểu cách nào cũng đúng cả…  Bây giờ để tôi nói ngay việc chúng tôi tìm ông bà.  Gã du kích già hỏi:

– Có phải ông bà có một anh con trai tên là Martine Marela không?

Cả nhà chồm lên:

– Phải, rồi sao nữa?

Tigre nói tiếp:- Chúng tôi hoạt động trên miền bắc Pháp – Le Havre.  Chúng tôi được chuyển về hoạt động tại vùng này cách đấy bốn tháng.  Chúng tôi được lệnh về đầy tìm ông bà để báo tin về Martine…

Cả nhà im lặng, nín thở chờ Tigre kể về Martine:

– Vào đêm 14 tháng 7 năm 1943, Martine cùng đồng đội đi đặt mìn phá cây cầu nói liền Le Havre – Paris.  Công việc mới bắt đầu thì bị lực lượng SS Đức đi tuần bắn chết 5 người, trong đó có Martine.  Thì hài toàn đội đều bỏ lại; chỉ còn duy nhất một người sống sót chạy về báo tin…

Tigre vừa kể đến đây, cả nhà khóc thét lên.  Trời mưa dữ dội, sấm chớp xé màn đêm.  Xa xa, từ phía bờ Đại Tây Dương vọng lại tiếng đại bác Đức nổ cầm canh.

Tigre nói thêm:

– Chúng tôi về đây để vận động quyên góp tài chánh và tuyển them du khích chống Đức để trả thù cho Martine.  Từ nay, xin gia đình che chở cho chúng tôi.  Ông bà có con ai quen biết quanh đây, xin giới thiệu cho chúng tôi…

***

Dõng ở lại với gia đình Marela một tuần trong khi quân Anh Pháp đã tiến nhanh về phía Đông Bắc.  Dõng quyết định tiếp tục cuộc hafnhtrifnh về phía Toulouse.  Renée không thay đổi ý định, vẫn một mực đòi đưa Dõng đi.  Tigre cố thuyết phục Dõng đi theo họ.  Dõng từ chối khéo:

-Tôi ghét Đức nên việc cùng quí vị chống Đức là hợp lý.  Tuy nhiên, tôi xa bà mẹ nuôi đã hai năm.  Tôi rất nóng lòng về thăm bà trước khi làm gì thì làm.  Tôi sẽ tìm cách liệc lạc với quí vị sau…

Renée bấm Dõng như ngầm bảo:  “Đừng nên hứa gì cả”

Ông bà Marela biếu Dõng ít tiền rồi đưa Dõng và Renée ra ga.

Bà Marela dặn con gái:

– Con đưa anh Dõng đến nói, nghỉ lại vài hôm rồi trở về.  Gia đình chỉ còn mỗi mình mày đó.  Chúc cả hai gặp may mắn.

Lên tàu, Renée chọn dãy ghế cuối toa để tiện nói chuyện.  Nàng kể Dõng nghe:

– Anh biết không, lão Tigre và hai thanh niên kia là cộng sản đó, Anh Martine đã lờ đi theo họ, gia đình chúng tôi rất ân hận về chuyện này.  Bây giờ anh tôi đã chết, họ cố tìm về gia đình tôi để gây cảm tình và vòi vĩnh tiền bạc, ăn uống.  Họ không làm được gì cả.  Đêm đêm họ tuyên truyề, tổ chức và vận độn qyên góp. Tigre thì vận động bảo tôi vào đoàn.  Sau này kháng chiến thành công, họ sẽ cho tôi đi học; họ sẽ cấp nhà, xe hơi v.v…  Tôi không tin những điều họ hứa.  Thằng nhóc tên C lại gạ gẫm bảo tôi yêu nó.  Nhìn vào mặt mũi họ, tôi có cảm tưởng họ không phải là những người tử tế, đáng tin cậy…  Tôi từ chối cả hai.

Dõng xin lỗi cắt ngang:

– Họ ở suốt ngày đêm trong gia đình cô sao?

Renée rất chân thật trả lời:- Vài tháng đầu, họ lẻn và nhà tôi sau nửa đêm khi họ thấy đó là giờ phút an toàn nhất.  Họ đến để kiếm ăn và dựa hơi chúng tôi canh chừng cho họ ngủ.  Chừng 5 giờ sáng, họ thức dậy đòi ăn trước khi họ lẩn vào rừng rậm.  Ngày tháng phôi pha, tôi có cảm tưởng họ là lũ bò tót vô tích sự.  Họ chờ lực lượng kháng chiến quốc gia Pháp và lực lượng đồng minh tiến vào giải phóng nước Pháp rồi họ sẽ có phần.  Đó là loại “vấy máu chia phần”.  Từ khi quân kháng chiến của tướng De Gaulle xâm nhập vào miền nam Pháp diệt Đức, đôi khi chúng tấn công vào lực lượng yêu nước De Gaulle để cướp vũ khí, đồng hồ và tiền Anh kim.  Loại súng họ đang mang trên vai là “chiến lợi phẩm” tước đoạt từ lực lượng kháng chiến quốc gia.  Chính lão Tigre đã nói toạc với ba tôi rằng:  Công việc của lão là tỏ chức Đảng, Đoàn cộng sản miền nam Pháp để khi Hitler bại trận, nước Pháp sẽ trở thành một xứ Sô Viết Cộng Hòa Tây Âu.  Tigre còn nói thêm, hắn nhận lệnh từ Stalin, từ Maurice Thorez…  Khuôn mặt của Tigre là khuôn mặt “Định Mệnh”, giống hệt như bản đồ của Liên Bang Xô Viết…

Renée cảm thấy mình nói quá nhiều trước vị bác sĩ trẻ tuổi này, nàng  ấy náy:

– Thưa Bác sĩ, bác sĩ có ghét cô gái Pháp dân chài lắm mồng này không?

Khúc-Dõng lắc đầu:

– Không đâu!  Tôi thích nghe cô.  Song, tôi rất ngạc nhiên với tuổi đời mười tám của cô, cô biết thật nhiều chuyện quan trọng.  Chiến tranh có hai tác động:  Một, hủy diệt tài hoa.  Hai, tự nó nẩy sinh tài hoa!  Cô là một trong hai tác động ấy.  Cô kể tiếp đi, tôi nghe.

Renée nhìn đồng hồ, thì còn tàu đã vượt một đoạn đường 160 cây số sau bốn tiếng đồng hồ.  Cô ta mở gói lấy ra một bọc thức ăn:  hai đùi gà chiên, bốn khoanh bánh mì và hai thẻ chocolates.  ngồi sát nhau, Renée dùng cặp đùi của mình làm bàn ăn trưa.  Cô gái mời Dõng.

– Bây giờ trời đang trưa.  Mẹ đã chuẩn bị cho chúng ta đây.  Anh ăn đi.  Renée đưa một đùia gà cho Dõng và một cho nàng.  Thế hệ tuổi trẻ Âu Châu quá hồn nhiên và thông minh.  Họ quan niệm về bình đẳng một cách rất giản dị.  Người phụ nữ Âu-Mỹ thường được đàn ông dành cho mọi ưu tiên.  Sông nền văn minh kia khiến cho giới đàn bà trên miền đất sống động này có sự từ tốn, lễ độ (đôi khi gần như phải chịu đựng mà ta hiểu lầm) với giới “mày râu”.  Từ đó, tính nét của nữ giới Âu Mỹ là sự dung hòa giữa chế độ phụ quyền Đông phương (Trung Hoa, Nhật, Việt-nam, Triều Tiên và Mông Cổ) với chết độ bình đẳng Âu-Mỹ hôm nay.  Họ tôn trọng lẫn nhau và họ thành công.

Dõng mãi theo dõi câu chuyện chận thành từ một thiếu nữ Pháp còn rất trẻ, chàng đã quên nhìn đối tượng đang thỏ thẻ với mình như thế nào.

Renée là một cô gái Pháp khỏe mạnh.  Nàng có chiều cao ngang Dõng.  Cô gái da trắng này sinh ra trên miền nước mặn – miền hiu hiu muôn thuở của thùy dương.  Tóc nâu, da nâu, mắt xanh, đùi ếch.  Lồng ngực vạm vỡ, đôi cổ tay tròn búp, chơm chởm lông măng.  Giọng trẻ ấm chân tình phải vào tâm hồn người đàn oongtrer đối diện một sự quyết rũ phi thường .  Renée ăn rất tự nhiên, nói rất cả những gì mình có, nghĩ sao nói vậy.  Đó là một tâm hồn sạch, một cơ thể lành mạnh – một niềm tin cậy sơ đẳng của con người.  Không ai nỡ ghét một búp hoa.  Họ ăn trưa trong khi con tàu đang lao về phía trước Renée tiếp tục:

– Sau hai tháng thăm dò, chiến tranh càng khốc liệt họ càng bình yên.  Họ không khăn gói vào rừng nữa.  Họ là loài dơi bắt đầu làm quen với ánh sáng, họ nằm lì trong gia đìh tôi.  Mỗi sáng, nếu nước Pháp chiến tranh không tàn bạo quá với làng tôi, ba tôi và tôi đi tìm cái ăn trên sông nước.  Chúng tôi có hai con thuyền bằng gỗ và một bộ lưới quét dài rộng chừng 300 mét.  Ba tôi tự chèo mọt chiếc, tôi làm chủ một chiếc.  Ba tôi ra khơi trải lưới.  Tôi ghìm những phao lưới cuối cùng.  Trải xong mạn lưới, chúng tôi bắt đầu kéo lưới lên.  Vùng duyên hải Brest đến Rennes thuộc vịnh Biscay có vô số cá nục.  Hai cha con tôi tung lưới mỗi ngày ba lần.  Đến 4 giờ chiều, chúng tôi cuối lưới đi về thì đã đầy ắp khoang thuyền độ cả tấn cá nục (blue fishes).  Lên bờ, công ty cá hộp Sardine đã chờ trên bải.  Chúng tôi cân bán cho họ, chỉ để lại vài ba ký lô cho gia đình dùng.  Theo giá trị tiền Phật-lăng hôm nay, hai cha con tôi kiếm độ vài ngàn quan, đủ sống chừng nửa tháng.  Tuy nhiên, sống hôm nay phải nghĩ đến ngày mai.  Trong giai đoạn nước Pháp đang chiến tranh, ba tôi đã dành ít tiền mở một tiệm tạp hóa để mẹ tôi trông coi.  Sinh sống có tinh toán,  gia đình tôi không chật vật lắm.  Chúng tôi chỉ mua bánh mì, thịt, trứng, cà phê và đồ ấm mùa đông.  Tôi vừa xong Trung học là xâm tay áo làm việc với ba tôi.  Giấc mơ tương lai bị chậm đứng bởi chiến tranh.

Bác sĩ Dõng chen vào:- Sau hai tháng thăm dò, ba người “kháng chiến” kia sống ra sao?

Renée:

– Họ, họ giống hết loài dơi:  ngài ngủ, đêm đi.  Tôi không biết họ đi đâu.  Độ chừng 3, 4 giờ sáng họ mò về đạp cửa.  Họ tự lục tìm thức ăn, ăn xong họ ngủ một giấc li bì đến trưa hôm sau.  Chúng tôi phải nuôn ba người ấy suốt bốn tháng liền.  Nếu chỉ có vây thôi thì cũng chẳng có gì đáng nói.  Cách đây một tháng, trời đã quá khuya, gia đình tôi nghe tiếng kêu cứu của một giọng đàn bà hàng xóm.  Về sau mới biết, Tigre và hai tên kia đã kiếp dâm và Virgine góa chồng.  Sống trong xã hội thiếu trật tự, không có pháp luật che chở, bà Virgine chỉ là loại đồ chơi cho bọn người rùng kia.  Tôi chán sống vùng Brest lắng rồi.  Tôi yêu kính cha mẹ tôi, nhưng cuộc sống thanh xuân của tôi đang bị đe dọa nghiêm trọng.  Gặp anh, nhìn anh, nghe anh tôi cảm thấy như Chúa đã cho tôi con người trong mộng…

Sáu gờ tối, con tàu hét lên hồi còi chát ngắt rồi dừng lại tại ga Toulouse.  Dõng dìu Renée xuống tàu.  Sân ga Toulouse đã bật đèn.  Còn năm cây số nữa thì đến nhà, Dõng xách hộ hành lý, hối Renée cùng chạy.  Họ đến bến xe Bus và kịp giờ trước khi xe chuyển bánh.

Lên xe, Renée nhõng nhẽo với Dõng:

– Em đói bụng!  Còn bao lâu nữa thì đến nhà anh?

– Độ chừng nửa tiếng thôi.

Chiếc Bus dừng lại trước một ngôi trường trung học.  Cả hai xuống xe.  Dõng, hai tay nặng trĩu hành lý bảo Renée đi nhanh theo chàng.  Đây là ngôi nhà đầy ấp hoài niệm của Dõng.  Nhìn vào bên trong chỉ thấy một ánh đèn leo lét, cô đơn.  Dõng đạp cửa, một người đàn bà Pháp chừng quá 50 ra mở cửa.  Cả bà chủ lẫn õng đều xa lạ.  Bà chủ giọng đã run lên tiếng trước:

– Chào ông bà buổi tối.

Dõng thưa:

– Tôi là Khúc-Dõng, con nuôi bà Henry, và đây là bạn đường của tôi – Renée Marela.Người đàn bà mở toang cửa, hai tay đang rộng mời hai người vào.  Bà đóng cửa lại rồi bắt đầu khóc.

Bà nói nhanh:

– Hãy nghe tôi một chút thôi, rồi đi tắm.  Tôi biết cả hai đang mệt sau một chuyến hành trình.  Tôi là người chăn gà cho bà Henry, chắc Dõng còn nhận ra tôi.  Sau khi cậu bị bắt đi biệt dạng, bà Henry khóc mãi cho đến năm ngoái thì bà chết.  Thế theo chúc thư tài sản, quận đã xác nhận đây là tài sản của cậu.  Họ đã hỏi ý  kiến tôi, nếu tôi có thể giữ gìn ngôi nhà này trong vòng ba năm.  Nếu không có sở hữu chủ trở về, chính phủ sẽ có quyết định sau.  Thật vui mừng cậu còn cơ hội trở về.  Hai người đi tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi đi làm vài thứ ăn tối.

Dõng đưa Renée đi quanh nhà một vòng.  Khi vào phòng ngủ của Linda, Dõng nhận ra đồ đạc vẫn y hư cũ không một dấu vết thay đổi nào.  Chàng dừng lại trước tấm hình có gắn huân chương.  Renée đứng bên Dõng, bất thần nàng òa lên khóc.  Nàng nhỏ lệ trước tấm hình của một người chưa hề quen biết.

Trong và sau bữa tối, Dõng kể cho bà quản gia nghe tóm tắt những việc đã xảy ra trong hai năm qua.  Dõng cũng giới thiệu Renée và gia đình Marela là ân nhân mới của chàng.  Trời đã khuya, bà quản gia khuyên hai người nên đi ngủ, ngày mai sẽ nói chuyện thêm.

Ngày hôm sau bà quản gia đưa hai người đi thăm mộ bà Henry, Chiếc Citroën của Dõng vẫn còn đó.  Chàng thử đề, bình điện mất điện từ lâu, xe không nổ.Sau khi đi thăm mộ về, bà quản gia đưa ra một chiếc hợp bằng thiếc chưa đầy giấy tờ giao lại Dõng, bà nói:

– Đây là chúc thư, văn khế nhà cửa và trương mục ngân hàng.  Cậu nên xem lại cẩn thận, chỗ nào cưa rõ hỏi tôi.  Cậu đã về, tôi hết trách nhiệm và sẽ trở về nhà tôi.

Dõng cắt ngang:

– Thưa bà, mời bà ở lại đây với chúng tôi.  Tôi sẽ thưa chuyện với bà sau, bây giờ tôi đang bối rối, chưa quyết định được gì cả.

Trong đống giấy tờ ấy, Dõng lưu ý ba lá thư cùng một người gởi, đó là anh chủ tịch “Hội Sinh Viên Việt-nam” năm nào.  Lá thư mới nhất đề ngày 6 tháng 4 năm 1944.  Qua lá thư này, anh ta khoe vừa tốt nghiệp bằng Thạc sĩ Văn chương.  Dõng lục mãi may ra có thư bên nhà gửi sang, nhưng không có.  Dõng hỏi bà quản gia thì được bà xác nhận rằng trong hai năm qua không thấy thư từ, tin tức nào cả.

Trở thành chủ nhân bất đắc dĩ, nhưng trong tủ Dõng hông có xu nào.  Giờ đây viên bác sĩ trẻ có ba mối bâng khuâng:  Niềm bâng khuâng thứ nhất – Chiến tranh tự nó đang che dấu mọi sự thật.  Việt-nam, cha mẹ và em gái chàng đã biệt tăm trong bốn năm, không biết việc gì đã xảy ra cho quê hương và gia đình.  Dõng muốn về nước ngay song tình thế trả lời chàng “chưa được”.  Ai cấp chiếu khán, ai cho nhập cảnh?  Đại diện của chính phủ Việt-nam chưa được thiết lập tại đây.  Nhật đang là cừu địch với Pháp.  Nguyên tắc luật phát đã bác bỏ ý muốn của chàng.  Nỗi bâng khuâng thứ hai – Dõng không có tiền.  Tiền là chìa khóa.  Bâng khuâng thứ ba – Renée, một cô gái chân tình.  Dõng có cảm giác: quan hệ giữa chàng và Renée đang vượt xa tình bạn và rất cận kề đến ái tình.  Triết lý sống của Dõng dựa trên ba nguyên lý:  Tổ quốc, gia đình và tình yêu.  Chàng không phải là kẻ ăn xổi ở thì.  Bây giờ chàng phải sáng suốt, không dám cẩu thả thêm nữa.  Dõng cho mình là chàng trai Việt đã đi lạc đường.  Chàng gặt hái được một ít học vấn – cái bằng bác sĩ trở nên vô nghĩa bởi vì chàng không thực hiện được ba nguyên lý sống kẻ trên.

Điều phải hành động ngay là Dõng phải có việc làm.  Ăn mày đã nảy sinh đông đúc trên nước Pháp chiến tranh, chàng không muốn cộng thêm vào con số tệ đoạn ấy.  Một bác sĩ Y khoa trở thành ăn xin không phải là điều ngạc nhiên, nhưng  Dõng tìm cách tránh qui luật thườn tình của chiến tranh.  Từ nhà đến bệnh viện Paix – nơi Dõng làm việc bốn năm về trước hơn năm cây só.  Dõng không thể đi bộ đến đó đển xin trở lại nghề cũ của chàng.  Chàng hì hà hì hục sửa lại chiếc xe Citroen bỏ hoang đã bốn năm.  Đổ thêm xăng, nhớt, lau chùi, xét lại bu gi…  Việc làm của Dõng trở nên vô ích, chiếc xe chàng vẫn không rên một tiếng để chào ông chủ cũ.  Vì điện năng biesn thành cơ năng.  Điện đã không còn thì làm sao khởi động được máy.  Dõng biết thế, liền chạy ra đường đón một chiếc Taxi.  Người tài xế mừng húm lên vì gặp được khách.  Ông ta mở cửa mời Dõng vào.

Dõng chui đầu vào phòng lái của tài xế:

– Không!  Tôi không nhờ ông đi đâu cả.  Tôi hỏi ông một việc, nếu ông giúp tôi, tôi sẽ trả tiền.  Tiên lộ phí và tiền giúp đỡ có khác gì nhau?

Ông tài xết tắc xi có một bộ mặt rất tài xế, ông ta đang hút thuốc, trợn cặp mắt mau hướng về phía khách có vẻ như ong ta sẵn sàng nổi lôi đình:

– Ông da vàng, ông muốn gì.  Đừng quấy tôi quá sớm.

Dõng trả lời:

– Tôi không muốn quấy mấy ông đâu.  Chỉ có súng đạn mới quấy được ông.  Tôi chỉ hỏi ông có thể giúp tôi một việc, tôi sẽ trả tiền, thế thôi.  Xin ông đừng chửi tôi.

Viên tài xế taxi gắt:

– Đừng dài dòng, ông muốn gì?

Dõng nói ngay:

– Bình điện của chiếc Citroën của tôi mất điện, xe không nổ máy.  Ông vào đây chuyền cho xe tôi một tít điện, tối sẽ trả tiền, ông bằng lòng không?

Viên tài xế quát:

– Nế xe nổi, ông sẽ trả tôi bao nhiêu?

Dõng trả lời:

– Tùy ông, bao nhiêu?

Viên tài xế taxi giá:

– Mười lăm quan!

– Cho xe ông vào vườn ngay – tôi đồng ý.Viên tài xế câu dây truyền điện và bắt đầu làm việc.  Hắn bảo Dõng ngồi trước tay lái và đề.  Chừng hai phút sau xe Dõng rung lên và bắt đầu nổ.  Dõng mừng.  Viên tài xết hét lên:

– Cứ để xe ông nổ tiếp chừng 15 phút.  Bình điện xe ông không tệ lắm đâu.  Đưa tiền đây!Dõng xìa cho ông ta 15 quan, hắn lui xe như bỏ chạy.  Ông ta ra đườn rồi phóng nhanh.  Đồng Phật-lặng đã bắt ông ta lái xe điên cuồng.

Renée luôn bên cạnh Dõng.  Nàng vui ra mặt khi chiếc xe “bắt chó’ của Dõng hầm hừ như tiếng chó, nhưng nó không cắn ai.  Nàng bất thần chồm lên hôn Dõng , một chiếc hôn nồng cháy tình yêu.  Renée bảo:

– Anh hôn trả lại em đi!  Đây là chiếc hôn chân thành của đời em, cho anh.  Renée giục:  Ta vào nhà đi.  Dõng phục tùng mệnh lệnh của đàn bà.  Chiếc Citroën nổ máy, chàng nghe văng vẳng tiếng gọi của ái tình.

Dõng thay đồ.  Renée hỏi:

– Bây giời anh muốn đi đâu?

Dõng trả lời:

– Ái tình không phải là chum nước lã, Anh phải đi tìm việc sáng nay.

Renée hỏi vặn.

– Anh đi tìm việc ở đâu, bao xa?

Dõng:- Anh đi lại thăm bệnh viện Paix nơi anh đã làm việc bốn năm về trước.

Renée:

– Hãy hượm, em muốn được đi với anh.

Dõng:

– Vào thay đồ vội lên.

Cả hai đi đến bệnh viện Paix.  Những người quen biết của Dõng vẫn còn đông đủ.  Họ chào mừng bác sĩ Dõng như chào đón một người thân biệt tích ba năm, nay lại trở về.  Họ hôn Dõng tràn cả mặt Renée ghen.  Dõng giới thiệu với viên giám đốc và nhân viên bệnh viện Paix:

Đây, Renée Marela – bạn gái và là ân nhân của tôi.

Họ xông đến chào Renée.  Họ nói:- Bác sĩ Dõng.  Ông đã mất tự do và sống với thô bạo của chiến tranh, nhưng ông chưa mất sạch.  Ông đang còn tình yêu.  Renée sẽ điền bù cho ông – một món quà của dân tộc Pháp.

Viên giám đốc mời Dõng trở lại công việc cũ.

Viên giám đốc bệnh viện Paix hỏi:

– Renée có cần làm việc gì không?

Dõng trả lời:- Nàng không muốn trở về quê cũ mặc dầu nơi đó vẫn còn tình máu thịt của nàng – cha mẹ nàng.  Song, Renée ghét cộng sản đã quấy rầy gia đình này tại Brest không ít.  Nàng muốn được sống mãi bên cạnh tôi.  Xin đừng ai hỏi tại sao bởi vì tình yêu là cái gì không định nghĩa được.  Nó có sức mạnh.  Nó có sức mạnh ghê hồn trói chật hai tâm hồn, hai tình cảm hai cuộc đời vào nhau.  Vùng vẫy để thoát ra sợi giây ái tình chân thật là một tội lỗi…

Viên giám đốc cắt ngang:

– Liệu tôi giúp được gì cho Renée không?

Renée ưsa nước mắt:

– Xin ông giám đốc cho tôi một việc làm.  Tôi sẽ không ngại khó nhọc, đồng lương khiêm nhường đến đâu, miễn sao tôi được gần bác sĩ Dõng…

– Được.  Chúng tôi sẽ huân luyện cho cô về nghề quản lý và phân phát thuốc men.  Cô đừng lo.  Bây giờ cả bác sĩ Dõng và cô trở về nghi ngơi.  Ngày mai sẽ là ngày cính thức khởi sự công việc của hai người.

Hai tâm hồn, một chiếc xe giàu kỷ niệm.  Sáng đi chiều về bên nhau.  Renée viết thư về khoe với ông bà Marela nhưng phấn mạnh là không được cho nhóm kháng chiến cộng sản biết cô và Dõng đang ở đâu.  Ông bà Marela hiểu được quan điểm của Renée.  Oongbaf biết lo lắng.  Renée xác định gọn với Dõng:

– Từ nay em sẽ thay chị Linda được tùy thuộc về anh.  Em sẽ theo anh đến tận chân trời góc biển nào anh đi – nghĩa là em không thể thiếu anh.  Em không thể đùa cợt trước hai tâm hồn say đắm yêu thương, nghĩa là em không bao giờ phản bội tiếng gọi của con tim.  Lễ nghi của hôn nhân trở nên vo nghĩa, nếu hai tâm hồn miễn cưỡng sống chung.  Đó chỉ là thr tục bình thường về pháp lsy.  Nó chỉ có giá trị về tài chánh, quyền hợp pháp thay thể sở hữu chủ.  Ái tình mang những quyền lực lớn hơn, trong đại hơn nhiều.  Haicon tim và hai âm hưởng hòa chung, chính chúng đã thay thế cho luật pháp…

Khúc-Dõng mở tròn đôi mắt khinghe một cô gái trung học người Pháp định nghĩa về ái tình, Chàng ôm choàng lấy Renée, hôn lên môi nàng một cách trịnh trọng như xác định một chân lý của ái tình.

Ngày 8 tháng 5 năm 1945, cả nước Pháp bay bổng lên như một cánh hồng để reo mừng Đức quốc xã đầu hàng.  Ấu chau giải phòng, nước Pháp được giải phóng.  Dõng mừng vì cơ hội trở lại quê hương sắp đến gần.  Dõng mơ một ngày như thế xảy ra trên xứ sở chàng.  Hòa bình của nhân loại là một khát vọng thật lớn lao.  Cả nước Pháp lại sống trong hào quang lần nữa.  De Gaulle cùng các danh tướng của ông oai hùng trở lại Paris.

Dõng viết nhiều thư cho gia đình, bất chợt một ngày sau ngày nước Pháp và đồng minh đại thắng, chàng nhận được như nhà.  Lá thư khá dài, tem dán đầy theo hình chữ U lộn ngược trên mặt phong thư.  Nét chữ của cha chàng đã khiến chàng rưng rưng.  Bóc thư.  Cha chàng viết:

“Con,”

Thầy mẹ và em đang còn sống nhưng quân Nhật đang còn đây.  Mẹ và con và Khúc Thái An khóc suốt năm năm.  Cả nhà cứu ngỡ rằng con đã chết và đã đặt một bàn thờ, hương khói suốt ngày đem, không ngờ con đan còn sống.  Đó là đại phước của gia đình.  Tại sao con không viết thư cho thầy mẹ hơn bốn năm?  Có lẽ chiến tranh đã tạo ly gián, thầy không tin con dễ quên tình máu mủ.  Thầy mẹ và dì con viết cho con nhiều thư cả địa chỉ ở Marseille và Toulouse, nhưng cả hai hoàn toàn biệt tăm.  Đọc thư con mới đây làm cho cả nhà họ hàng mừng không tả được:  Con đang còn sống và đã đậu bác sĩ y khoa.  Thầy đã yếu lắm nhưng vài tuần nay sau khi nhận được thư con, thầy cảm thấy khỏe hắn lên.  Mẹ con cũng vậy, Dĩ Dượng con và Thái An đều vui ra mặt và đợi con về.  Nhật sẽ đầu hàng.  Thầy theo dõi tình hình qua báo chí được biết rằng quân Anh, Mỹ đang tiến vào nước Nhật.  Phi cơ Mỹ đến dội bom Nhật suốt ngày đêm tại quê mình.  Thầy bị Nhật bắt giam hơn ba tháng vì một tên một thám cho Nhật người Việt báo cho Nhật rằng, thầy là một sĩ phu Việt-nam cực đoan chống cả Pháp lẫn Nhật.  Tình hình Việt-nam đang rối rắm, con chưa tiện về”.

Cuộc đời không bạc đãi Dõng đến độ phải than phiền.  Dõng nghĩ:  “Cơm áo là linh hồn của đời người.  Song chúng chỉ là cái Giá và chiếc Túi, treo và chưa hai loại vật chất sơ đắng nhất của đời.  Tâm hồn và cơm áo thường là tỉ lệ thuận của lý tưởng.  Tệ hơn thế, chỉ vì cơm áo đã lôi kéo con ngườ đi vào tội lỗi mà chính họ không muốn.  Một cô gái chọn nghề làm đĩ, đó không nhất phải gọi là: sự nghiệp” của cô ta.  Sự nghiệp ấy có chữ “Phải” trong đó.  Nghĩa là chỉ vì muốn được sống, cô gái không còn con đường nào để chọn cả.  Cô ta không mang tội lỗi gì hết, xã hội của cô mới là bà chủ của tội lỗi – Tú Bà.  Tránh được sư chà đạp nhân phẩm kia mới đang ca ngợi.  Nhưng chàng?  Nhiều khi sự nhẹ dạ, cầu thả của con người đưa người sa vào cạm bẫy được che đậy bởi danh từ “lý tưởng” mới là điều đáng sợ”.

Dõng cùng Renée chung sống và làm việt tại bệnh viện Paix cho đến ngày mùng tám tháng năm, 1945 – ngày Âu châu reo hò Hitler đầu hàng.  Hào quang và vinh quang của nước Pháp và cả thế giới lần nữa lên đèn.  Bóng đem lịch sử đi qua.  Bây giờ ý nghĩ mãnh lệt nhất trong khối óc của viên bác sĩ y khoa là về quê.  Dõng bất chấp mọi giá.

Tháng 8 năm 1945, Dõng đọc được một bài thơ của P.H.T, người sinh viên Việt-nam, chủ tịch hội sinh viên Việt-nam mà chàng đã gặp 5 năm về trước.  Ông ta đã đậu Thạc sĩ văn chương:

Đàn ca sĩ từ lâu đà treo vách
Ca sao đang trong buổi đất trời xiêu…

Rồi ông mơ:

Mơ ánh kim tinh với bóng cờ điều…

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 tại quê nhà, cờ đỏ sao vàng rợp trời gọi là “Cách mạng tháng tám”.  À, viên Thạc sĩ kia mơ “cờ đỏ sao vàng”!  Hai tâm hồn khát vọng lý  tưởng Độp lập không hẹn mà gặp từ đó.Tháng 9, 1945 Dõng đọc lời Tuyên ngôn được Hồ Chí Mình – cái tên lạ hoắc tuyên bố tại Vườn Hoa Ba Đình, Hà Nội.  Cả khối sinh viên Việt-nam xôn xao.  Trời Nam Pháp sang Thu.  Cây cỏ đã thay màu.  Từ mà xanh của mùa Hạ chuyển thành màu da cam.  Dõng nhớ lại một câu tả mùa Thu trong truyện Kiều của Nguyễn Du:

Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.