Friday, April 20th, 2018 3:59:09 pm

Chương 5 Lạc Đường

Sau một tháng lênh đênh trên biển cả, Khúc-Dõng cùng với một số trí thức du học Pháp theo Hồ về đến Hà Nội.  Tháng 5, 1946 cả Hà Nội đang trong không khí ngọt ngạt lo âu.  Nạn đôi 1945 vẫn chưa phục hồi trên nét mặt người dân cố đô Thăng Long.  Nắng nhiệt đới đầu tiên khiến Renée thêm mệt mỏi, hóc hác sau một chuyến hải trình dài.  Họ được ở khách sạn vài ngày để đợi Nhà nước sắp xếp chỗ ở cộ định.  Khúc-Dõng được giao về bộ y tế và được bổ dụng đến làm việc tại bệnh viện Bạch Mai.  Đây là một bệnh viện Bạch Mai.  Đây là một bệnh viện lớn của Hà Nội nhưng trang bị cũ kỹ và quá nghèo nàn.  Bệnh nhân la liệt, kho  dược liệu èo tèo vài loại thuốc thông thường để trị sốt rét, kiết lỵ  Bác sĩ thiếu trầm trọng.  Dõng phải làm việc 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày.  Lại còn  cái nạn họp hành liên miên, biểu tình chống Pháp… nhiều pháp trường xứ bắn những người mà chính phủ Hồ gọi là “Việt gian”.

Ước vọng của Khúc-Dõng sau khi đến Hà Nội là về quê thăm nhà.  Anh gởi đơn lên bộ Y Tế xin phép đi Quảng Nam thì chỉ được phê bằng ba chữ đỏ:  “Không chấp thuận”.  ngoài ra không có lời giải thích nào nữa.  Một hôm, có một người bác sĩ cùng chuyến về với Dõng đến thăm.  Nhân dịp ấy Dõng phàn nàn:

– Mọi nóng ruột mong được về Quảng thăm gia đình, nhưng đơn Moi bị bác thẳng tay.

Viên bác sĩ kia rỉ tai Dõng:

– Moi nghe dự luận rằng:  Toi bị liệt vào “thành phần không tin tưởng”.  Họ đang cho lũ Cớm regarder Toi đấy.  Hãy cẩn thận.  Trót về đây rồi, Moi ân hận vô cùng.  Đâôu đuôi cũng tại cái thằng P.H.T. mà ra cả.

Khúc-Dõng hỏi vặn:

– Tại sao họ regarder Moi?

Viên bác sĩ X trả lời:

– Moi nghe nói Toi đã lỡ miệng sao đó ngày còn bên Pháp.  Tên kia báo cáo lên bố nó rồi.

Dõng trả lời:

– Vậy hả?  Moi cóc sợ, nhẫn tâm lắm thì họ giết Moi là cùng.  Nhưng giết Moi thì họ được cái gì?  Lại thêm tai tiếng, ai còn dám cộng tác với họ sau này?  Moi cứ tưởng họ bác đơn Moi chỉ vì chiến tranh sắp bùng nổ nay mai, có dè đâu là thế.

Bác sĩ X:

– Mọi cũng bắt mạch tình hình như Toi:  Chiến tranh Việt Pháp sẽ bùng nổ trong cuối năm nay.  Chúng mình chỉ còn nhắm mắt đưa chân chứ biết sao.  Quân Pháp sẽ đổ bộ lên Hải Phòng một ngày gần đây.  Pháp trở lại Việt-nam, mục đích chính của họ là phục hồi nền thuộc địa đã mất.  Muốn làm thế, Pháp chỉ còn mỗi biện pháp để lựa chọn:  Chiến tranhĂ  Mà Hồ cũng muốn chiến tranh.  Hai tên đạo tặc gặp nhau!

– À, Renée đâu rồi?  Bác sĩ X hỏi Dõng.

Khúc-Dõng khôi hài:

– Ồ. Renée đi qua nhà bên cạnh học nấu cơm.

Bác sĩ X cười xòa.

Dõng phân trần:

– Đó là sự thật.  Tội nghiệp, Renée không biết ăn cơm chứ đừng nói chi đến nấu cơm.  Nếu Moi không tìm mua được cho cô ấy muỗng nữa thì cô ấy bốc thức ăn bỏ vào miệng.Bác sĩ X cười lăn ra, bảo Dõng:

– Toi thật có nghề pha trò, câm ngay!

Dõng nghiêm nghị trả lời:- Toi tưởng Moi phịa sao?  Moi dạy cô ấy cầm đũa.  Renée tập cả tháng nay nhưng vẫn không và cơm được.  Có lần bọn Moi ăn rau muống, Renée dùng vít rau lên trông thòng lòng như mèo tha dưa cải.  Chán quá, cô ta bỏ đũa xuống, bóc rau muống cho vào mồm tiện hơn.  Moi không nhịn được cười, cười to lên.  Renée mắc cỡ khóc.  Nàng giận Moi hai ngày.  Nàng nhìn cuộc sống, nền văn hóa, cách sinh hoạt; nhìn cờ đỏ sao vàng, nhìn khẳu hiệu la liệt ngoài đường nhưng nàng không đọc được, nàng buồn.  Vợ Moi đã thay đổi tính tình nhanh chóng từ khi về đây.  Nhưng nàng yêu Moi nên không muốn nói.  Một hôm, Moi gạn hỏi tại sao thì Renée chỉ trả lời ngao ngán:  Découragé!

Renée vừa học được vài tiếng chào hỏi:  “Chào ông, chào bà và chào anh, chị”.  Ngoài ra, nàng không biết gì khác để chuyện trò.  Dũng đi làm mỗi ngày 14 tiếng đồng hồ, mỗi tuần bảy ngày không nghỉ.  Nàng cảm thấy cô đơn.  Renée tâm sự với chồng:

– Từ ngày theo anh về đây, em đang mang ba chứng bệnh hiểm nghèo: câm, đui và điếc.

Dõng hỏi vặn:

– Anh không hiểu em muốn nói gì.

Renée:

Em không nói chuyện được với người Việt-nam trừ anh.  Em ngượng vô cùng.  Đó chẳng phải em bị căm sao?  Báo chí tại Hà Nội toàn là tiếng Việt, em không đọc được chữ nào.  Em có đôi mắt như mọi người nhưng không đọc được sách báo Việt ngữ.  Nếu không gọi là đui thì gọi laf gì?  Người Việt-nam rất thật thà là cởi mở, mến người ngoại tộc.  Khi anh đi làm, các em nhỏ Việt-nam xung quanh đây hay đến căn phòng này chơi.  Chúng nói như một bầy chim đang hót.  Em chẳng hiểu chúng nói gì.  Một ngày chủ nhật anh vắng nhà, có hai bé gái rất xinh cầm đến một bó hoa hồng.  Hai em nói một tràng tiếng Việt – em ngơ ngác.  Hai em lập lại chữ Mẹ nhiều lần.  Em tự đoán, cọ lẽ mẹ hai em bé gái ấy bảo chúng mang bó hoa này đến tặng em.  em hiểu ý, liền cầm lấy bó hoa và hôn lên má hai bé gái và chỉ biết nói chậm với chúng “Merci beaucoup”!  Anh không nghĩ là em đang điếc sao?

Dõng giảng thích:

– Nói theo hifnh dung từ thì em có lý.  Nhưng chỉ nên nói là ngôn ngữ bất đông thì đúng hơn.  Ba căn bệnh em đang có, thời gian sẽ chữa lành.  Anh sẽ kèm em học Việt ngữ.

Thư goởi đi pháp bị nhà cầm quyền Hà Nội kiểm duyệt rất gắt gao.  Ranée gởi thư về gia đình nàng xin báo để đọc và nếu có thể được, nàng ao ước được ịt đồ hộp như răm-bông, ba-tê…  Mãi cả 6 tháng kể từ ngày nàng gởi thư đi mới nhận được thư nhà.  Trong thư có ghi, mẹ nàng gởi nhiều loại báo khác nhau, nhưng nàng chỉ nhận được mỗi tờ báo L’Humanité cũ mèm như miéng giẻ rách.  Phong thgư rách bươm vì bị kiểm duyệt quá nhiều lần.

Quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng rồi dần dần tiến lên Hà Nội.  Tình hình sôi sục không khí chiến tranh.  Renée gởi lá thư thứ hai và nhà hay không.  Nàng theo chồng đi Việt Bắc trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ.  Dõng được chuyển sang một bệnh viện quân đội.  Bệnh viện này chỉ mang bí số QY-101 chứ không cọ tên.  Họ đi buồn rượi.  Họ có cảm nghĩ rằng cả hai đang đi vào con đường phiêu lưu mới, vô định.

Trên đường đi tản cư, tâm hồn người dân, các nhà lãnh đạo chính phủ, quân đội và du kích, giới thư sinh có 4 loại suy tư khác nhau:

Chịnh phủ Hồ với khuôn mặt nghiêm trọng, vênh váo, tự hào được trở lại hang  Pắc Pó.  Xa cách người dân, tiếp tục hưởng mọi trọng đãi trong khói lửa.

Quân đội và du kích thì ca hát vaf hô khẩu hiệu, cong giò chạy nhanh hơn thỏ.

Thành phần cùng khể Hà Nội chưa hồi sinh sau trận đói 1945 thì nay chiến tranh lại ập đến.  Đôi vai trĩu nặng một quảy càn khôn.  Tất cà bị vô sản hóa bởi cại chính phủ gọi là “Việt-nam Dân Chủ Cộng Hòa”.

Lớp trai trẻ, học sinh rời bỏ đô thành Hà Nội để về chiến khu với một ít lãng mạng, có dáng dấp anh hùng ca vay mượn:

… “Ngày tàn gởi mộng sang biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm…”

(thơ Trần Quang Dũng)

Gần một tuần ngược dòng Hầng Hà, họ tập hợp nhau lại tại ột làng miền Trung du Bắc Việt để nghe viên chính ủy nói chuyện.  Bấn người lịnh “Vệ quấc quân”, ba người vác mã tấu, một người mang cây súng trường cận vệ.  Viên chính ủy nây xuất hiện trong một ngôi đình rộnh thênh thang.  Trong đám người được bổ sung vào QY-101 cùng đi vớng Dõng hôm ấy, có lắm kẻ sính chuyện vỉa hè.  Họ thì thầm với nhau:

– Đó là Bác sĩ chính ủy người Nùng.  Ông ta giỏi ra phết, tốt bụng, thích ăn trầu, uống rượu cần, ăn thịt “Cờ Tây”.  Người bên cạnh phản đối:

– Ông nghe lóm chuyện lỉnh kỉnh ấy ở đâu kỹ thế?  Ông ta không có bác sĩ bác sọt gì cả.  Ông ta là một y tá tại đồn Yên Bác của Pháp năm 1943, làm một gián, đưa tin tức ra ngoài cho “Việt-nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân” năm 1944.  Bị lộ, ông ta trốn theo “cách mạng luôn.  Giỏi lắm, ông giấy chỉ biết chích ký-ninh cho người sốt rét là cùng…

Một gã “sùng bái” ngồi bên cạnh nổi nóng gát ầm lên:

Này, xin quí vị câm mồm hộ cho, thối lắm!

Tiện thế, ông “sùng bái” oẹ ra một tràng dài tiếng Pháp rất đúng giọng “chị em xót Paris”.

Một chiếc bàn thờ bằng gỗ cũ như cái mái đình “Hồng Thá”.  Một bác nước lá vối đặt lên mặt bàn.  Ông “Bác sĩ chính ủy” khệnh khạng bước ra.  Ông ta rất giống một tên lính Nhật.  Vị “Chính ủy” da ngăm đen, lùn, mặt quân phục Nhật Bản, đội nón sắt Nhật Bản và cái túi bằng da hình chữ nhật cũng của quân Nhật nốt.  Ông rút vài mảnh giấy từ trong cái túi da ấy, màu giấy đã ngã vàng.  Một gói thuốc lào, gói cẩu tha cũng theo giấy vọt ra lung tung trên bàn.  Viên cận vệ khúm núm đến bên cạnh chiếc bàn, tay quơ, tay hốt vứt hết vào cái túi “càn khôn” ấy.

Thính giả của ông ta đêm ấy có đến cả ngàn.  Đó là những bác sĩ, chuyên viên mổ xe, y tá, cứu thương và vô số y công.  Họ nóng ruột đợi ông bác sĩ chính ủy bắt đầu. Nhưng ông không chịu khai khẩu ngay cho.  Ông thực hành “Ba bước lên lớp, Năm bước giảng dạy” của ngành sư phạm cụ Hồ.  Hết bướt hốt thuốc Lào cho vào túi, bước thứ hai là ông dufg cả hay tay bưng bát nước vối uống một hơi.  Xong, ông ta quay lại sau quát tháo:

– Còn nước vối không?  Lấy thêm, nhanh nên!

Tên cận vệ chạy đến bàn lấy cái bát. Lát sau, anh ra đi rất cẩn thận, từng bước một, bung bát nước lá vối thứ hai đến đặt vào bàn.  Ông chính uống nữa.

Thích giả của ông phía dưới sân đình cầu nhàu:

– Uống kiểu đó chỉ có nưới suối may ra mới đủ thỏa mãn cho con khát “Ngàn Năm” của cách mạng. Họ thở ra, sốt ruột.

Uống xong, ông chính ủy cũng chưa chịu bắt đầu ngay cho.  Ông lại quay lại đám cận vệ hách dịch:

– Cái điế thuốc “Nào” của tôi đâu?

Một viên cận vệ khác cầm cái ống tre ngắn độ 3 gang ta ra với cái tẩu – hình dáng đặt nghiêng 30 độ, giống như khẩu súng cối 60 ly.  Anh ta nhét tuốc “Nào” vào phễu, rồi rút ra một que tre chăm vào ngòn đèn đầu trên bàn.  Que tre cháy, gã đốt thuốc “Nào”, Ông chính ủy khom người, trọn mắt hít một hơi dài.  Tẩu thuốc có chưa nước lọc hơi, kêu ro ro nghe sốt sắng như bầu máu nóng của “cách mạng” thuở khơi mào.  Ông chính ủy “rít” thuốc “Nào” hơi qua dose, ông say. Đôi mắt trợn ngược, hai tay ôm chặt cạnh bàn, lảo đảo…  Một phút thần tiên trôi qua.  Ông cười. Trời đã về khuya, ông chính ủy bắt đầu:

– Các đồng chí thân mến. Xin chào mừng các bác sĩ, y tá, y công… của tôi đã tập họp đủ chiều nay.  Bây giờ chúng ta bắt đầu một giai đoạn kháng chiến chống Pháp, giải phóng dân tộc…

Viên chính ủy lên giọng:

Muốn tòaoàn thắng giặc Pháp, chúng ta phải “đù” ba cái:

● Cái thứ nhất:  Dùng nhân tài vật lực.
● Cái thứ hai:  Phải dù tinh thần trường kỳ kháng chiến.
● Cái thứ ba:  Phải đù nam, phụ, lão, ấu – tòaoàn quốc một “Nòng”

Các đồng chí hiểu chưa?

Chẳng có ai trả lời gì cả.

Viên “bác sĩ” chính ủy lại lục túi lấy thuốc lào nhận vào phễu.  Ông ta kêu lên:

– Que tre đốt thuốc đâu?

Viên cận vệ quơ đại một mảnh giấy lộn cuộn lại, châm lưrửa vào phễu.  Viên chính ủy hút thả giàn rồi như nhớ lại việc đang làm:

– Các đồng chí thân mến.  Như Hồ chủ tịch có dạy:  “Lương y kiêm từ mẫu”…

Ông chính ủy có một cố tật, mỗi khi nói là nhắm mắt lại, không cần thấy vạn vật xung quanh.  Đó là có tật của giống chim Họa mi.  Cả ngàn người bên dưới ngáp đói, buồn ngủ, họ thảo luận với nhau:

– Điệu này chúng ta sẽ ngồi đây suốt đêm nay hay sao?  Chưa có hột gì trong bụng, không có nước lá vối, không chuốc lào…  Đến đâu thì đến, phải về kiếm chút gì ăn, chợp mắt vài giờ để sáng ra còn tiếp tục băng đèo lội suosi nữa chứ!