Wednesday, August 15th, 2018 6:33:25 am

Nhã Ca – Giải Khăn Sô Cho Huế (Viết Về Tết Mậu Thân Ca Trong Lừa Đỏ)

“Bà ta viết về sự độc ác khủng khiếp trong cuộc tổng công kích Tốt Mậu Thân (1968) tạl Huế, sinh quán của bà.  Khí tập truyện kỷ mang tồn Giải Khăn Sô Cho Huế khởi sự đăng tải trên một nhật báo tạl Sàigòn, đặc công việt Cộng đã gửi thư đe dọa, buộc bà ta ngưng viết.  Bà đả không nhượng bọ.”

James M. Markham (New York Times, 19-11-1973)

“Tết Mậu Thìn, 20 năm sau biến cố Tết Mậu Thân, Sàigòn cũ vẫn nhắc nhở đốn Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca…  Tác giả sách này đã bị bắt sau khi cộng sản chiếm miền Nam cùng với chống là thí sĩ Trần DạTừ.  Cả hai đã bi nhốt nhiều năm như những tù nhân chính trị.  Người chổng thì cho mãi đến nay hình như vẫn chưa được thả ra.”

Barbara Crossette (New York Times, 2-1988)

Diều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân.  Dó là một sai lầm không thể nào biện bác được…

Dù có một số sự việc không đúng sự thực, do có hoặc không có dụng ỷ của tác giả, Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng.

Hoàng Phủ Ngọc Tường

(Nguyên Tổng Thư Ký Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Binh Thành Phố Huế thời Tết Mậu Thân-trả lời phỏng vấn của Thuỵ Khuê, đài RFI -12-7, 1997)

“Nhã Ca, như họa sĩ Chóe miêu tả bà: nữ thần Công Lý với một tay đong đưa lịch sử quê quán cố đô Huế, một tay mang nặng thuyền Việt Nam, không phải là con người thơ thới.  Như Simone Weil, vãn chương bà, dù là văn chương viết về tuổi trẻ, vẫn trĩu nặng ựu tư.  Bà có chân dung đáy góc cạnh nhọn, như nhũng bức tranh của Braque, của Plcasso.

Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu Ịõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975.

Đinh Từ Bích Thuý (Tạp chí văn chương Da Màu số 29 / 30.06 2007)

NHÃ CA

Sinh tại Huế, 1939.  Từ 1960 tới 1975, sống tại Sàigòn, đã xuất bản 36 tác phẩm, gồm nhiều tiểu thuyết, bút ký “Giải Khăn Sô Cho Huế và tập thơ “Nhã Ca Mới.”

Sau khi Sàigòn sụp đổ năm 1975, Nhã Ca là nhà văn nữ duy nhất có tên trong sách “10 Biệt Bích Văn Hoá” một công trình đánh dẹp “tàn dư Mỹ Ngụy” do nhiều tác giả, học giả Cộng Sản cùng viết.  Bà cũng là nhà văn nữ duy nhất bị cầm tù, trong cuộc hành quân lớn của công an cộng sản bắt giam các nhà văn, nhà báo miền Nam Việt Nam.  Sau đó, Nhã Ca theo cách nhìn của công an cộng sản, được dựng “thành nhân vật phản diện” trong tiểu thuyết điệp báo đăng nhiều kỳ trên báo Công An, rồi được in thành sách, dựng thành phim “Vụ An Hồ Con Rùa”.

Từ tháng 9-1988, cùng chồng là Trần Dạ Từ và các con rời Việt Nam sang Thụy Điển, nhờ sự can thiệp của P.E.N International và sự bảo !ãnh trực tiếp của Thủ Tướng Thụy Điển Ingvar Karlsson.

1992, định cư tại California, tiếp tục viết văn làm báo, chủ nhiệm sáng lập hệ thống Việt Báo Daily News tại Hoa Kỳ.

Cùng Một Tác Giả
sách đã in

 

Việt Nam, 1962 – 1975

Thơ:  Nhã Ca Mới.  Thơ Nhx Ca.  Văn:  Đêm Nghe Tiếng Đại Bác.  Đem Dậy Thì.  Bóng Tối Thời Con Gái.  Khi Bước Xuống Thì.  Người Tình Ngoài Mặt Trận.  Sống Một Ngày.  Mưa Trên Cây Sầu Đông.  Một Mai Khi Hòa Bình.  Tình Ca Cho Huê Đổ Mát.  Đoàn Nữ Binh Mù Thu.  Phượng Hoàng.  Giải Khăn Sô Cho Huế.  Tình Ca Trong Lửa Đỏ.  Chính Tranh Trong Thành Phố.  Mùa Hè Rực Rõ.  Lăm Về Phí Mặt Trời.  Đời Ca Hát.  Cổng Trường Vôi Tím.  Tòa Bin Đinh Bỏ Không.  Dạ Khúc Bên Kia Phố.  Đám Tng Cá Voi.  Cô Hịp Py Lạc Loài.  Tuổi Hồ Vỗ Cánh.  Mộng Ngoài Cửa Lớp.  Trưa Áo Trắng Trăng Mười Sáu.   Yêu Một Người Viết Văn.  Hiền Như Mực Tím.  Bầy Phượng Vĩ Khác Thường.  Ngày Đôi Ta Mới Lớn.  Bé Yêu.  Bước Khẽ Tới Người Thương.  Chuyện Đôi Ta.
Ngày Thơ Tình Thơ.  Đừng Khinh Tuổi Mười Lăm.

Tại Hoa Kỳ từ 1989

Thơ:  Nhã Ca Thơ.  Văn:  Hoa Phượng, Đừng Đỏ Nữa.  Sàigòn Cười Một Mình.  Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng.  Chớp Măt Một Thời.  Đường Tự Do Sàigòn.  Sách tái bản:  Trăng Mười Sáu.  Giải Khăn Sô Cho Huế.

Pháp nữ

Les Canon tonnent la Nuit”, Éditions Philippe Picquier, Paris ( Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, bản Pháp ngữ của Liêu Trương)

Bốn Mươi Năm Góp Giỗ

Sách “Giải Khăn Sô Huế” in lần đầu tại Việt Nam cuối 1969.  Trong ấn bản đầu, có lời tựa nhỏ:  Nhiều loại súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã đổ xuống đầu Huế.  Dù do từ đâu đi nữa, thì cái tội tàn phá và tàn sát Huế đã diễn ra trong thời đại chúng ta và chính thế hệ chúng ta chịu trách nhiệm.  Nhân ngày giỗ thứ hai của Huế Tết Mậu Thân sắp tới, xin coi “Giải Khăn Sô Cho Huế” như một bó nhang đèn góp giỗ.”

Tôi tin vào tương lai của Huế và tương lai Việt Nam, như tin vào nhữn tình ca về lòng yêu thương và sự ăn ở tử tế giữa con người với nhau.  Với lòng tin ấy,  sau “Giải Khăn Sô Huế” còn có thêm hai cuốn sách nhỏ viết ề Tết Mậu Thân:  “Tình Ca Cho Hếu Đổ Nát” là tập truyện viết về tình yêu và lòng thành của Huế trong đau thương, tang tóc.  Tiếp đó là “Tình Ca Trong Lửa Đỏ,” một truyện dài về tình yêu của cô gái Huế dành cho một chàng lính Bắc tử tế.

Từ sau 1975, sách vở miền Nam bị đốt, và nhà văn đi tù.  Cho tới nay, Huế không còn được phép chính thức có một ngày giỗ chung cùng hướng về những người chết tức tưởi hồi Tết Mậu Thân.

1968-2008.  Đã là bốn mươi năm.

Vẫn với lòng tin xưa, đây là lần đầu cả ba cuốn sách về Huế Mậu Thân được gom lại làm một.  Và sách “Giải Khăn Sô Huế” thêm một lần được in lại, như một bó nhang đèn góp giỗ.

Góp cho ngày giỗ 40 thầm lặng trong lòng Huế.

Và góp cho một ngày giỗ tương lai tại quê hương, nơi từng biết thế nào là tình yêu thương, sự ăn ở tử tế, như từng biết thế nào là văn hóa, lịch sử.

Về Giải Khăn Sô Cho Huề và Nhân Vật Mậu Thân

1.  Từ Nhà Tù Tới, “Nhà Trưng bày Tội Ác Mỹ Ngụy”

Căn phòng nhỏ bé có vẻ tạm bợ.  Mái tôn nóng hầm.  Mặt bàn phủ bụi.  Anh ta nói giọng miền Nam, hiền hòa ái ngại.

“Chị Nhã Ca, tôi không ngờ chị yếu thế.  Thấy chị đi lại còn khó khăn lắm.”

À, anh ta đã đứng đâu đó, nhìn tôi chống tay vào tường lê từng bước thảm hại trên đường tới đây.  Giai đoạn một.  Giai đoạn hai.  Mấy tháng cát sô rồi phòng giam nữ.  Chẳng biết sắp sửa giai đoạn mấy nữa đây.

Tôi là Năm Nhân rồi lại Mười Kết.  Thật là lộn xộn.

Nữa, một vệ binh vô phòng, tay bưng một ly sữa bốc khói, đặt xuống bàn rồi lặng lẽ quay ra.  Ly sữa được đẩy về phía tôi.

“Đây là sữa các cháu gửi cho chị.  Còn ít trái cây nữa.  Sáng nay tôi có ghé nhà thăm các cháu.  Cháu Na mua sữa cho mẹ.  Cháu Ti thì gửi hai trái qui.  Chị phải về thôi chị Nhã Ca a.  Tôi có nói chuyện lâu với Sốm Mai, cháu đã kiệt lực, không còn sức lo cho các em nữa.  Tôi nói mẹ cháu về, cháu khóc nức nở.  Cháu út của chị đang bị lên sởi…”Đòn nặng.  Trái cam, trái quít, hộp sữa.  Cắn miếng thịt con.  Cắn đôi mắt con.  Phải nhìn anh ta thôi.  Mặt ngắn, cân đối với người thấp, Vai ngang.  Mắt lộ, tròng mắt vàng, hơi đờ dẫn.  Mũi nở, dầy, anh ta không có lẽ là một người thớ lợ, đòn phép.”Chúng tôi đã cứu xét xong trường hợp của chị.  Tôi được lãnh đạo cử tới chỉ để giúp đỡ chị.  Từ nay, chị sẽ có cơ hội  được bồi dưỡng để hồi sức.  Đợt làm việc này có thể là lần chót, để giúp chị an tâm tư tưởng.  Chị Nhã Ca, chị uống sữa đi chớ.”

Thì uống.  Thằng út lên sởi.  Tôi đang nuốt từng hơi thở nó.

Ổ khóa, cửa sắt kêu lẻng xeng.  Chị Hai Hăng Rết đẩy long:

“Tới rồi, ra kìa.”

“Đó.  Thấy chưa.  Chị mặc cái áo này vừa vặn.”  Tội nghiệp Nga.  Em đã lôi từ đáy giỏ ra cái áo đẹp độc nhất, ráng vuốt cho thẳng, buộc tôi phải mặc.

“Chị cứu thong thả.  Hỏng, hị phải uống nhiều sữa hơn mới được.”Vẫn cậu vệ binh trẻ, tay bưng ly sữa bốc khỏi theo, anh ta lững chờ tôi ở phía ngoài.

“Kỳ, buổi tối, nhớ đem riêng nước sôi cho chị Nhã ca pha sữa.”

“Báo cáo, rõ.”

“Chị phải phấn đấu cho mau khỏe lên.  Tôi mới ghé nhà thăm các cháu, cháu Toe đã gần lành bệnh lên sởi rồi.  Không có gì phải lo lắng nữa.

“Cũng vẫn giọng hiền hòa, ái ngại ấy.  Gần hai tuần rồi, sáng nào Mười  Kết cũng tới tận cửa phòng,  chờ lãnh tôi ra.  Dẫy cát sô trước phòng dam nữ lặng lẽ.  Ba ngày trước, Chóe đã rời cát sô số một, chẳng biết đi đâu.  Người thay chỗ anh, nghe đâu là Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Tổng Thư Ký Viện Hóa đạo tước đây, nhưng cái ngăn nhỏ tên cát sô đã xập kín, không ai thấy mặt ông.  Cuộn dây nilông của bọn trẻ trong phòng không có dịp dùng nữa.  Tóc thở.  Da thở.  Mũi thở.  Vòm trời trên đầu tôi xanh cao biết bao.  Gió vuốt ve.  Nắng ấm áp.  Chỉ có đôi chân là không chịu chìu người.  Sau những tháng dài cát sô, tôi đang phải vất vả tập lê từng bước bằn đôi chân của chính mình.  Đoạn đường phải đi, cũng đã dài hơn trước.  Phải sang tận khung A:  Một lớp học cho 22 văn nghệ sĩ đã được mở ra ở đó từ mấy ngày nay.

Khung A là khung nhà cu của đề lao Gia Định, gồm mấy giang nhà giam lợp ngói cũ kỹ.  Bếp, văn phòng trại tù vẫn đặt ở đó.  Khu B, khu C, với cả trăm phòng giam tập thể và và cát sô, là công trình của chế độ mới.  Thợ nề, thợ mộc vẫn không ngừng làm suốt ngày đêm, vôi vữa ngổng ngang.  Chẳng biết sẽ còn những khu nào được xây thêm.

Kìa, từng khuôn mặt dán vào xong sắt trong những dẫy phòng giam tập thể.  Tù nam, những bộ xương ghẻ lở sơn phết xanh lè, mỗi người chỉ mang một cái quần là loon.  Có ai đó đang cố vẫy tay ra dấu.  Không thể nhìn rõ.  Tôi làm thế nào để có thể chia cho các bạn chút nắng, chút gió.

Với tù nhân đang hưởng nhưng  công trình xây  cất mới, thì phòng giam cũ kỹ còn ở lại khu A là thiên đường, vì ở đó có mái ngói, có gạch bông, có nước , đỡ được cái nóng khủng khiếp từ mái tôn, mùi hôi thối nồng nặc của cầu tiêu tập thể trong phòng.

Tôi sẽ còn lê bước qua hai trại tập thể, một dãy cát sô dài, thêm một cái sân nưa.  Mười Kết lững thững theo sau.  Cậu cán binh trẻ vẫn cung kính bưng ly sữa theo sau anh ta.  Không cần quay lại, tôi cũng biết vậy.  Thật là một đám rược kỳ cục.  Tôi đã phải chịu đựng cái trò vệ binh bưng sữa theo hầu này bao ngày rồi, không  cách gì chấm dứt nổi.

“Chỉ phải uống nhiều sữa hơn mới được, Chị Nhã Ca a.  Sữa của các cháu gửi cho Mẹ mà.  Chính các cháu nhờ tôi buộc chị phải uống.  Chúng tôi chỉ muốn tạo điều kiện giúp chị mau phục hồi, trở về với các cháu.”

Một lần, trước các bạn trong “lớp học” tôi phải yêu cầu anh ta chấm dứt cái trò cho người bưng sữa theo hầu buồn cười này, rồi lại được trả lời vậy.

“Thì cho nó hầu.  Uống đi.  Chết thằng Tây nào.”

Anh Hoàng Anh Tuấn cười cười, bảo tôi.

Từ cuối tuần trước, 21 văn nghệ sĩ, được “biên chế” sang  ở riêng một phòng giam, để “lên lớp thu hoạch.”  Người thứ 22 trong lớp này là tôi, vẫn ở phòng giam nữ.  Hàng ngày Mười Kết đích thân tới noun, làm thành đám rước… sữa, lê từng bước qua các khu trại giam cho mọi người nhìn.  Đòn phép ân huệ hay trình diễn lòng nhân đạo?  Thây kệ.  Chỉ còn đoạn sân ngắn nữa.  Đứng lại thở cái đã.

Lớp học đang ngồi sẵn, cả cán bộ giảng dạy lẫn 21 học viên.  Bước lên mấy bậc cấp là phòng họp thoáng mát, bàn ghế ngay ngắn, cửa sổ mở ra hàng hiên  có bóng cây, sân nắng.  Hầu hết số  học viên, đều là các đạo diễn điện ảnh, cải lương hay phóng viên, người viết văn chỉ có anh Dương Nghiễm Mậu và tôi.  Thêm anh Hoàng Anh Tuấn, đạo diễn xi nê kiêm thi sĩ, và cậu em tu sĩ Nguyễn Hữu Hiệu, dịch giả.  Tôi ngồi giữa các anh Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Anh Tuấn.  Ly sữa đặt trên bàn.  Vệ binh trẻ lặng lẽ rút lui.  Không khí lớ học nghiêm trang.  Trên bàn giảng, anh cán bộ phụ trách lớp đang tiếp tục nói.  Mọi bữa, thấy bóng Mười Kết, anh ta  thường phảu xun xoe lại chào hỏi.  Hôm nay Mười Kết đứng tít ở đằng xa nhìn rồi bỏ đi, không thấy anh ta chạy ra.  Có gì mà coi bộ long trọng dữ?

Không khí lớp học nghiêm trang.  Trên bàn giảng, anh cán bộ phụ trách lớp đang tiếp tục nói.  Mọi bữa, thấy bóng Mười Kết, anh ta thường phải xun xoe lại chào hỏi.  Hôm nay Mười Kết đứng tít ở đằng xa nhìn rồi bỏ đi, không thấy anh ta chạy ra.  Có gì mà coi bộ long trọng dữ?

“Như Chị Nhã Ca kìa.  Trong những buổi lên lớp vừa qua, tôi đã phân tích rõ các cuốn sách phản động, cản bước tiến cách mạng của chị ấy.  Vậy mà các anh quay lại coi.  Cách Mạng đã đối xử với chị ấy.  Vậy mà các anh quay lại coi.  Cách Mạng đã đối xử với chị ấy như thế nào.”

Nghe thử.  Tưởng gì.  Vẫn bổn cũ sọan lại.  Chính sách tòan cầu của đế quốc Mỹ.  Nọc độc văn hóa Mỹ Ngụy.  Chính sách cải tạo khoan hồng của Nhà Nước.

“Như chị Nhã Ca kìa.  Trong những buổi lên lớp vừa qua, tôi đã phân tích rõ các cuốn sách phản động, cản bước tiến cách mạng của chị ấy.  Vậy mà các anh quay lại coi.  Cách Mạng đã đối xử với chị ấy như thế nào.”

Nhiều người từ mấy bàn trên quay lại thật.  Hòang Vĩnh Lộc, Hồng Dương…  Hình như tất cả đểu tủm tỉm cười, chắc không phải với tôi, mà với ly sữa để trước mặt.

Đúng là anh ta đã phân tích.  Với hai ba cuốn sách cũ của tôi trên tay mấy buổi liền, anh ta thỉnh thỏang lại giở ra trích đọc vài đọan, rồi bình giảng bằng một giọng bình dân, vui vẻ.  Tổng kết mấy buổi bình sách, anh Hòang Anh Tuấn cười rút rich, nói nhỏ:”  Con bé này tàn nhẫn thật.  Hôm qua cán bộ Tiến phân tích sách của nó đã kêu:  Viết vậy là bỏ bố tôi rồi.  Lát sau đến câu gì đó, lại kêu:  Bỏ mẹ tôi rồi.  Mi là sát nhân hí, giết chết một lúc cả bố lẫn mẹ hắn.  Thôi ăn năn hối cải đi em.  Rồi về.  Để lâu, giận, tử hình, nghe chưa.”

Hôm nay không thấy anh ta mang mấy cuốn sách cũ ra nữa.  Chắc đã chuyển mục.  Có mục mới thật: phát giấy bút, viết “bản thu họach.”

“Các anh chị đã học tập rồi, đã thấy rõ Đảng và Nhà Nước khoan hồng độ lượng như thế nào rồi.  Bây giờ là lúc mỗi người phải viết rõ lòng thành thật giác ngộ, thành khan hối cải, biết ơn Đảng.  Chính với bản thu họach này, các anh chị sẽ tự quyết định tương lai của mình.”

Giấy.  Rồi bút.  Viết à?  Viết gì?  Đây là chữ Ba, chữ Má do em Ti tô màu.  Con đang dạy em Ti tập đọc, tập viết.  Tôi có tôi viết văn.  Chúng tôi làm thơ.  Thơ tình.  Chúng tôi sống.  Chúng tôi sinh con đẻ cái.  Chúng tôi được tập trung cải tạo, được đối xử nhân đạo…  Chúng con không ở nhà cũ nữa.  Em Ni, em Lu ở với bác Vị.  Chúng con thì ở với bà Ngọai.  Phải viết gì nữa nhỉ.  Con khỉ.  Giấy với bút.

“Vân, đừng điên nữa.  Viết đi.  Cô phải về, lũ nhỏ đang đợi.”

Anh Nghiễm giữa tay tôi lại.  Trang giấy trước mặt, từ bao giờ, đã vẽ ngang dọc chi chít.

Phải kiếm cái gì nhét cho nó thật đầy.  Dễ ẹc.  Tôi hỏi mượn anh cán bộ trên bục giảng tờ báo Học Tập, nói là để coi lại các bài Sợi chỉ đỏ xuyên suốt ba cuộc cách mạng mà anh ta mới giảng hôm qua.

Đây rồi.  Sợi chỉ đỏ xuyên suốt.  Cho mày xuyên đầy mấy trang giấy, tha hồ mà nghiên cứu, học tập.

Cũng phải uống chứ nhỉ.  Dại gì.  Ly sữa nguội ngắt.

Xe búyt chờ giữa sân trại.  Tư Tiến, Hai Nghiêm, thêm một lô áo vàng và 21 “học viên” tập họp chờ sẵn.  Đám rước sữa đủng đỉnh đi tới.  Những người thợ nề trên giàn cao ngôi nhà tù đang xây tiếp, bỏ cả công việc, ngó xuống.  Mười Kết, sơ mi trắng bảnh bao, giải thích:

“Các anh chị đừng lo sợ.  Không có chuyển trại, đổi trại gì đâu.  Hôm nay là ngày cuối của khóa thu họach.  Các anh chị đã học tập, thu họach tốt.  Sở quyết định đãi ngộ.  Bữa nay chúng ta tham quan tòa nhà trưng bày tội ác Mỹ Ngụy, nghe một cán bộ văn hóa nói chuyện, coi chiếu phim, dự một tiệc chiêu đãi có nước ngọt, bánh ngọt, thuốc hút.  Kìa, chị Nhã Ca, chị uống hết ly sữa đi rồi chúng ta lên đường.”

“Uống lẹ lên.  Cho người ta còn đi dự tiệc chiêu đãi.”

Anh Hòang Anh Tuấn làm bộ nạt tôi.  Mọi người đều cười.  Đi tham quan, dự tiệc có khác.  Mỗi người một ghế, không còng.  Cười nói tưng bừng.  Kìa, chợ Bà Chiểu, Lăng Ông, Cầu Bông.  Ôi phố xá thân thuộc.  Chị áo hồng kia, cắm cuối đạp xe, có cái giỏ đen phía trước.  Con chị đang đợi ở nhà.  Anh kia băng qua đường vội vã.  Phải kiếm lấy gì về cho vợ con ăn chứ.  Xe đạp.  Đạp xe.  Mọi người ì ạch đạp, ì ạch thở. Mình cũng phải thở thôi.  Tôi thở.   Xe sang Đa Kao.  Một bà mẹ dắt con nhỏ lững thững đi bộ.  Có bà cụ già kia kìa, đứng trước cửa nhà bế cháu.  Có ai khều tôi, nói gì.  À, Nguyễn Hữu Hiệu, Hòang Anh Tuấn, Hồng Dương…  Nhưng không có anh ấy.  Không chung xe, chung còng nữa.  Trời nắng lớn.  Kìa, một xe ba bánh chở dưa hấu.  Sắp thêm một cái Tết.  Không có anh ấy thật.  Từ ngày vào tù, mỗi lần chuyển trại, dù bằng bất cứ thứ xe gì, với tôi, đều là một hạnh phúc, vì chúng tôi có dịp nhìn thấy nhau, bên cạnh nhau.

Từ Hiền Vương, ép trái, chiếc xe búyt quẹo vào Lê Quý Đôn.  Cũng đọan đường này đây.  Lâu chưa nhỉ?  Mới mấy tháng.  Lúc ấy trời mưa mà.  Cái anh công an họa sĩ gì đó, lái xe Toyota, đón chúng tôi từ T20, chở về Sở Cồng An Thành.  Khi qua đường Lê Quý Đôn, thấy một người đàn ông trùm áo mưa, chạy xe Honda bên lề đường.  Ngồi băng sau, hai đứa chung một còng, chúng tôi nhìn nhau.  Xe vượt qua, anh công an họa sĩ thình lình hỏi:

“Anh Từ, anh biết người đi xe Honda chứ?”

Từ ậm ừ.  Anh ta cười:

“Phan Văn Phùng đấy mà, làm gì anh chị chả biết.”

Phùng dạy tóan ở Hội An rồi vào Chu Văn An, là một trong những bạn huynh trưởng thanh niên từ các trại hè thời 1965.  Từ nói:

“Anh cũng biết Phùng.  Vui nhỉ?  Sao không thấy anh dừng xe kêu anh ta hàn huyên cho vui.”

Bây giờ, ước gì lại được còng tay chung như lúc ấy, cùng cười thành tiếng.

Xe ngừng.  Tiếng cười nói ồn ào.  Không phải chuyên xe cũ nữa rồi.  Ngã tư Lê Quý Đôn-Trần Quý Cáp.  Xuống.  Vào.  Nhà trưng bày tôi ác Mỹ Ngụy.

Từ những năm sáu mươi, đây là khu nhà thuộc trường đại học dược khoa.  Bây giờ nhường chỗ cho đủ thứ hình ảnh: xe tăng, máy bay, súng ống Mỹ.  Ảnh duyệt binh quân Thái Lan, Đại Hàn, úc, Tân Tây Lan…  Những cuốn sách nữa kìa.  Trên tường.  Trong những khung trang trọng.

Để coi, tôi có gì. Giải khăn sô cho Huế.  Chỗ tốt, giữa khung.  Thêm Đêm nghe tiếng đại bác.  Một mai khi hòa bình. Kìa, Mai Thảo, Dõan Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Chu Tử, Dương Nghiễm Mậu.  Lê Xuyên.  Nguyễn Mạnh Côn…  Tội ác cả đấy.

“Chị Nhã Ca à.  Chị đã thấy lại tác hại của lọai sách vở cũ chưa?”

Vẫn cái anh Mười Kết bên cạnh.  Tôi nhìn lên mấy cuốn sách, trân trọng chào mình, chào bạn hữu.

2. Nhân Vật Mậu Thân

. . . Một lần nhân vật Mậu Thân trong “Giải Khăn Sô Cho Huế” gặp tác giả, ngay tại ngôi nhà 142 Đồng Khởi.  Khi anh ta bước vào, một tay ôm cái cặp da, một tay cầm cái hộp giấy.  Thấy anh ta lớ ngớ, không chịu ngồi vào bàn, tôi bước ra.

“Chị không nhận ra tôi há, chị Vân?”

Giọng Huế đặc, lại gọi đúng tên cúng cơm của tôi nữa.  Bạn cũ ngày thơ, hay kẻ quen biết?  Nhìn kỹ.  Anh ta cao, gầy nhom, má hóp, mắt sâu hoắm. Không nhớ.  Lắc đầu. Cười vậy.”Xuân đây.

Nguyễn Đắc Xuân. Huế nì.

“Vẫn không nhận ra nét quen thuộc nào.

Nguyễn Đắc Xuân, được biết tới cạnh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ thời sinh viên tranh đấu sau 1963, người mê nhạc Phạm Duy, tác giả bài thơ “Để lại cho em” được phổ nhạc thành Tâm Ca.  Sau khi bỏ ra khu theo Cộng Sản, hồi Mậu Thân, anh ta trở về Huế, ngồi xử trong những phiên tòa chôn người. Hiện nay, nghe đâu đang là nhân vật văn hóa, Tổng thư ký cả cái hội lẫn tờ báo văn nghệ gì đó ngoài Huế.

Anh ta đổi khác nhiều quá, hình như đã mất hết cái nồng nhiệt, hăng hái của thời kỳ tranh đấu.  Eo xèo.  Mệt mỏi.

Tôi nhớ cô bạn thân, mới đó, chiều nào còn dặn đi dặn lại:  “Hắn đòi treo cổ mi.  Đừng có về Huế.”  Trong cái cặp da kia, cái hộp giấy kia, có gì mà anh ta ôm khư khư vậy?

Đành nhìn thẳng vào mặt nhân vật một thời:

“Anh có mang sợi dây theo không?”

“Sợi dây?

“Mắt anh ta mở dấu hỏi.  Tôi cười:

“Sợi dây thừng để treo cổ chớ chi nữa.  Nghe anh tuyên bố sẽ treo cổ tôi ở Huế.  Tôi bận quá, không ra Huế được, bắt anh phải vô tận đây.  Không có sợi dây thừng, lấy gì mà treo?”

Chắc nhớ chuyện cũ rồi, anh ta cười xuề xòa:”

Thôi mà. Chị Vân.  Nãy giờ tôi đi qua đi lại mấy lần, muôn vô thăm chị.  Tôi đứng ở quầy bánh trước nhà, mua mấy cái bánh, rồi mới vô.  Chị khỏe không?”

“Anh thấy đó.  Tôi như thế này đây, thì vẫn…

“Liếc xéo qua rạp Măng Non, đang chiếu phim “Vụ Án Hồ Con Rùa”.  Tấm áp phích quảng cáo có hình Tú Dung, đóng vai tôi trong truyện mặt mày sắc cạnh, ăn mặc diêm dúa.  Cung đã có lần, tài tử đóng nhân vật trong phim cũng đã tới đây, làm khách hàng.  Bà ta ngồi ở góc kia kìa, theo dõi cử chỉ của tôi, từ bước đi, thế đứng.  Tôi có tặng bà ta mấy nụ cười thân ái.

“Chị buôn bán có đủ sống không, chị Vân?”

“Nếu khách nào cũng như anh thì khó sống.”

Mặt anh ta nghiêm lại.  Vào vấn đề chính rồi chắc?  Anh ta kéo ghế, tự động ngồi xuống.  Cặp da và hộp giấy đặt trên bàn.

“Chị ngồi xuống đi.  Hôm nay tôi tới đây là để thăm chị.  Chỉ để thăm chị.”

“Cám ơn, cà phê nghe?”

“Xin chị cho tôi một ly đen.  Cho phép tôi mời chị một ly?”

Không còn hình ảnh Đắc của Mậu Thân nữa.  Anh ta ngồi, hiền lành, hình như còn đôi chút bối rối, ngượng nghịu, vẫn má hóp, trán nhăn, tộc bạc, anh ta đang yên lặng, chờ.

“Lại phải cám ơn anh nữa.  Tôi đã bán hàng, lấy tiền, còn được uống.  Tôi có ly của tôi.”

Tôi ngồi xuống.  Anh ta mở cái hộp, bên trong có mấy cái bánh ngọt.

“Tôi mời chị.  Mọi chuyện cũ, coi như không có gì hết.  Chị Vân, bỏ đi.”

Anh ta lại cười, có vẻ thân thiện.  Bỏ đi?  Chừng đo’hầm chôn sống người hồi tết Mậu Thân, hàng ngàn người tắm máu, là chuyện đã cũ, coi như không có gì đáng bận tâm nữa?

Thấy ánh mắt tôi ngó, anh ta có vẻ hiểu ra điều gì, nói:

“Chị đừng hiểu khác, chị Vân nờ.  Tôi tới đây là để thăm chị, một người Huế tới thăm một người Huế.  Chúng ta chỉ là người Huế, phải làm gì cho Huế, chị.”

“Anh đã làm rồi.  Còn muốn làm thêm nữa?”

Anh ta sẽ giận?  Không.  Thái độ anh ta có vẻ bình tĩnh, chịu đựng.  Hình như anh ta có nhiều thay đổi ở ánh mắt, và giọng nói, tha thiết hơn, khi nhắc tới Huế.  Tại sao tôi tin vậy?  Anh ta lôi trong cặp da ra ba bốn tờ báo.

“Chị có đọc tờ Sông Hương không?”

Gần đây, tôi có đọc.  Gật đầu.

“Tôi muốn mời chị về lại với Huế.  Mời chị viết.”

Anh ta nói, thình lình, bất ngờ.  Tôi chưng hửng.  Tờ báo trên tay anh ta đưa về phía tôi.  Tôi không đưa tay lấy.

“Anh có nói đùa không?”

Vẫn nghiêm trang:

“Không, chị Vân.  Tôi rất thành thực đến gặp chị, mời chị cộng tác với tờ Sông Hương, tờ báo của Huế mình.”

“Tôi sẽ viết.  Nhưng không phải bây giờ.”

“Răng rứa?”

“Anh biết rồi mà.”

“Tôi không nghĩ vậy, chị Vân.  Mình chỉ viết về Huế, cho Huế, không dính gì chính trị ở trong đó hết.

“Tôi cười lớn.  Rồi nói một hơi:

“Anh Xuân à, tôi là một người đàn bà tầm thường.về chính trị, đốt đặc.  Nhưng nhà nước các anh tinh vi và đa nghi lắm, chắc không giản dị như anh đâu.  Viết về Huế, phải tả cảnh tả tình.  Ví dụ như tôi viết tả cảnh lầu thu, mấy ông công an nói lái lại thành thù lâu.  Tên nhân vật tên là Thu Huyền thì mấy ôngđánh vần tiếp thành “thu huyền thù”.  Và chắc anh, đôi khi viết cũng còn dò từng chữ, lái đi lái lại mà vẫn không yên tâm mà.”

Anh ta nhìn tôi, lắc đầu.  Tôi biết anh ta lắc đầu cho chính anh ta nữa.  Anh ta đã thành một người cộng sản hoàn toàn?  Tôi đo lường.  Còn một chút Huế không?  Anh ta cứ nói về Huế mãi.

Câu chuyện rồi cũng vui dần.  Có một lúc nào đó, hình rihư tôi còn thấy thấp thoáng tâm hồn anh sinh viên Huế ca khúc Phạm Duy, làm thơ phản chiến ngày nào.  Được vậỵ, sau bao nhiêu “chiến công” mà anh ta đã theo đuổi, chang hiểu với anh ta là điều đáng mừng hay đáng giận!

Tôi không ăn bánh anh ta mua, và tính tiền ly cà phê anh ta uống với giá phải chăng.

“Tôi sẽ trở lại thăm chị.”Anh ta nói khi từ giã.  Tôi cười.  Hieru rằng anh ta đã phải “phấn đấu” lắm, khi tới thăm một người anh ta đã từng tuyên bố treo cổ.

Tôi không gặp lại anh ta.  Hai năm sau, Từ ra khỏi trại tù.  Một hôm đi về kể vừa gặp một người ngoài đường.  Anh ta gọi, quay lại, không nhận ra.  Lại giới thiệu:  “Nhân vật của bà Nhã Ca đây mà.”  Vẫn chưa nhớ ra.  Xưng tên đầy đủ:  NguyênĐắc Xuân. Có nói chuyện với nhau không?  Từ nói có.  Anh ta còm cõi, tội nghiệp, nhưng trò chuyện vui vẻ, hòa nhã.

***

Hoàng Phủ Ngọc Tường là Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, sếp lớn của Nguyễn Đắc Xuân.  Tôi nhớ Sài Gòn.  Một hai lần gì đó đã gặp Tường.  Lần từ ở tù về, Tường cũng ghé lại.  Đứng ở bậc cấp thềm nhà, muốn bắt tay.  Tôi đứng yên.  Nhà cửa đang lúc bán buôn lộn xộn, không tiện mời vào.

“Mừng chị, nghe tin anh Từ về.”

“Vâng.”

“Anh khỏe không?  Mong anh Từ chóng bình phục lai.”

“Vâng.”

Chẳng còn gì để nói nữa.  Anh ta chào.  Thói quen, lại tính đưa tay bắt.

Lần khác, nhờ người quen hẹn trước, muốn tới thăm.  Tôi bận việc lo giấy tờ xuất cảnh.  Từ kiếp.  Kể lại:  Chỉ thăm hỏi, nhắc lại kỷ niệm cũ.  Kỷ niệm giữa đàn ông với nhau, tôi không tò mò hỏi thêm.  Từ nói tiếp:  Tường bảo em tệ.  Mấy lần Tường ghé tới, em không muốn tiếp.”  Cũng có thể là một lời trách của Từ.

Mấy bữa sau, họp mặt kỷ niệm thành hôn của cặp vợ chồng Nguyễn Văn Cử – Đăng thị Tám, tôi lại có dịp gặp thêm một nhân vật Mậu Thân khác của Huế.

Anh Cử từng là phi công VNCH, từng ném bom Dinh Độc Lập, em trai anh Nguyễn Văn Năng, một đồng nghiệp cũ của chúng tôi ở Đài Phát Thanh.  Thanh phụ anh cụ Nguyễn Văn Lực, là một nhân sỹ Việt Quốc nổi tiếng, hiện đang trong nhà tù Cộng Sản.  Trước khi bị bắt, có lần cụ Lực cho tôi một đôi giầy bốt đờ sô mới tinh, nhất định bắt phải gửi lên trại tù cho Từ.

Cô bạn Tám là luật sư, từng hiện trong các đám biểu tình sôi nooircajnh linh mục Trần Hữu Thanh, thời Ủy Ban Chống Tham Nhũng trước 1975, xuống đường lên án gia đình Tổng Thống Thiệu.

Cả chàng lẫn nàng đều nổi tiếng, vừa tài giỏi vừa giàu có.  Tiệc kỷ niệm thành hôn tổ chức ở một câu lạc bộ thể thao bờ sông Bình Lợi êm ả.  Bàn ăn ngoài trời, tân khách dập dìu.  Cúng tôi tới chậm.  Chưa yên chỗ, có ông trung niên ghế bên cạnh cười cười:

“A, chị Nhã Ca, nhân vật chào tát giả.”Nữ chủ nhân đứng bên cạnh chú thích giùm:

“Anh Lê Văn Hảo , thị trưởng Huế hồi Mậu Thân , nhân vật của bồ đấy.”

Thì ra ông ta.  Sơ mi trắng.  Nho nhã.  Lịc sử bao nhiêu hàm sát người  hồi Mậu Thân.  Sao nụ cười của ông ta vẫn thanh thản, dễ mến  được vậy?

Câu chuyện tiế tục bên bàn ăn vui vẻ.  Anh Hảo sao đó còn ghé thăm chúng tôi vài lần. trong trò truyện, đôi bên không nhắc tới chuyện cũ, nhưng có lần chúng tôi bảo nhau:  Hình như ông ta có điều gì muốn nói.

Mấy tháng sau, lúc chúng tôi sắp sữa rời Việt Nam, vị cự thị trưởng Mậu Thân lại từ Huế vào, tới thăm, mang theo gói mè xứng làm quà và một tập thơ nhỏ:  “Cái Chuông Vú” của con gái Hoàng Phủ Ngọc Tường, cháu bé Hoàng Dạ Thi, in trang trong, với Đinh Cường vẻ bìa, Bé Ký minh họa.

Lật ra, trang đầu có nét chữ đề tặng của tường dành cho chúng tôi.  Bìa sau, chân dung cháu bé thì sĩ do chú Đinh Cường “nhớ và vẽ.”

Cháu bé thi sĩ của Tường có lối nói thơ thật dí dỏm dễ, thương.  Không chỉ dễ thương, cháu còn thông minh quá đi chớ.  Chính anh Lê Văn Hảo, đã chỉ cho tôi đọc bài “Mở cửa ra.”

“Mở cửa ra cho sáng bầu trởi
Mở cửa ra cho sáng
ba
Mở cửa ra”

Đúng là cô bé thi sĩ nói được thành thờ điều mong ước cho cha mẹ em.

Mới đây, lúc nghe tin anh Lễ Văn Hỏa có cơ hội chính thức xin tị nạn tại Pháp, bôi bỗng nhớ câu thơ của cô thị sĩ bé con.

“Tác giả mừng nhân vật tìm lại được tự do.”Sau khi đọc bài phỏng vấn, đăng trên báo Quê Mẹ, Paris, trong đó, anh Hảo lên án tội ác Mậu Thân của Cộng Sản tại Huế, tôi viết mừng anh vậy.

Trên đất nước chúng ta hiện còn bao nhiêu người đã tỉnh hẳn cơn meemuooji của họ với chủ nghĩa và nhà nước Cộng Sản, nhưng vì hoàng cảnh, họ chưa có điều kiện để làm như anh Hảo.

“Mở cửa ra cho sáng bầu trời.”Ước mong câu thơ của cháu bé thi sĩ tiên tri sớm thành sự thật.

1
GIẢI KHĂN CHO SÔ

Tựa nhỏ cho lần in đầu tiên:

Viết Để Chịu Tội

Tôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành đã rời gia đình, bỏ thành phô’ và ra đi biền biệt.

Trước Tết Mậu Thân 1968, hôm 23 tháng chạp năm Mùi, đang cùng chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế:  “Về ngay.  Ba hấp hối.”

Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư của gia đình và thành phô’ là tôi đã trở lại Huế để chịu tang người cha thân yêu.  Và rồi như bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phô’, khi biến cố tết Mậu Thân bùng nổ.

Sau cả tháng dài lặn lội trong địa ngục Huế, khi sông sót trở về Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thắt một giải khăn sô cho Huế, phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huề.  Nhưng thời sự những ngày sau biến cố Tết Mậu Thân ồn ồn quá, bên cạnh cơn khóc than vật vã của Huế, người ta còn bận hịu với việc khai thác những chi tiết ly kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn.  Thật chưa phải là lúc viết ra nhưng sót sa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng cũng lại là sâu sắc nhất của một thành phố hấp hối.

Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo Sông hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại.  Phải ngưng lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng hơn, trầm tĩnh hơn, khỉ viết về Huế.

Thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua.  Hai năm, hài cốt nhiều ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống đáy sông đáy suôi, đã được thu nhặt dần.  Những nấm mồ tập thể đã tạm thời xanh cỏ.  Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại.  Cơn khóc than vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, đã lắng đọng dần.

Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau thắt lại giải khăn sô, đốt lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc, để hồi tưởng về Huế.

Nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã đổ xuống đầu Huế.  Dù do đâu đi nữa, thì cái tội tàn phá và tàn sát.  Ấy đã diễn ra trong thời đại chúng ta và chính thế hệ chúng ta phải lãnh phần trách nhiệm.

Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan, một cô bạn học cùng lớp với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo băng đỏ nơi tay, dắt súng lục bên hông, hăng hái đi lùng người này, bắn người khác, để trở thành một nữ hung thần trong những ngày tang tóc của Huế.

Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc, một sinh viên trẻ trung, hăng hái.  Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu.  Để rồi trở lại Huế với những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loạt người, rồi cho đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố, để xử tử.  Cậu bạn của Đắc, tên Mậu Tý, dơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc “Em lạy anh.  Bây giờ em theo các anh rồi mà.  Em có mang băng đỏ rồi mà.  Cách mạng muôn năm Hồ Chủ Tịch tnuôn năm.”  Nhưng mặc dầu Mậu Tý lạy lục, hoan hô, súng vẫn nổ vào người bạn nhỏ.

Chính trong thời đại chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm ngitòi, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm tnôt lá cờ trắng để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phô’ đầy lửa cháy.  Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần hết.

Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự.  Con chó thành mục tiêu đùa rỡn cho những mũi súng hờm sẵn từ bên kia sông.  Họ bắn cho con vật khôn khổ sợ hãi rơi xuống sông.  Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó nhỏ đang lóp ngóp bơi vào.  Những phát súng đùa cợt không cố tình bắn chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc con chó chới với giữa giòng nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa.  Thành phố Huế, và có lẽ cả quẽ hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó nhỏ đã chới với giữa dòng nước ấy.  Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa dùng những danh từ đẽp đẽ phô trrương nhất, không những chúng ta phải thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải chịu tội với Huế, với quê hương.

Nhân ngày giỗ thứ hai của Huế Tết Mậu Thân sắp tới, xin coi “Giải Khăn Sô Cho Huế” như một bó nhang đèn góp giỗ.  Mời bạn, chúng ta cùng thắp đèn, châm nhang.

Sàigòn, năm Dậu, 1969.
NHÃ CA

1. Những Giờ Đầu Tiên

Không biết tiếng súng đầu tiên nổ vào giờ khắc nào?  Giữa đêm, tôi choàng tỉnh dậy vì tiếng nổ xé toạc cả những giấc mơ vụn.  Vừa kíp lăn xuống khỏi tấm phản gỗ, tai tôi đã ù đi vì những tiếng nổ ran bốn phía.  Chuyện gì vậy?

Không biết làm cách nào mà tôi lăn tròn từ phòng ngoài vào phòng trong.  Bàn tay ai kéo tôi dúi vào giữa phòng.  Tôi nằm đè lên da thịt ai non mát.  Một tiếng kêu nhỏ tắc nghẽn vào âm thanh hỗn độn của súng đạn bên ngoài.  Khi tôi kịp định tỉnh lại tâm thần thì đứa cháu nhỏ đã ngồi lên được, nằm gọn gàng trong lòng tôi.  “Còn đứa mô nữa?  Vô hết đi. Vô một chỗ.  Tiếng má tôi thì thào.  Que diêm tắt phụt nhưng có ánh nến le lói từ phòng ngoài hắt vào.  Đứa em trai tôi trườn theo làn ánh sáng mỏng đó, nó ngồi áp vào bên má tôi.  “Làm ơn tắt dùm ngọn nến ngoài bàn thờ đi, tắt luôn cả lư trầm nữa.”  Ông anh lớn vội vã làm theo lời tôi, rồi nhảy đại rất nhanh vào ngồi dồn cùng một đống.  Lúc này tôi mới cảm thấy ngột ngạt đến muốn tắt thở vì hơi người, vì mùi trầm hương và mùi nến khét lẹt.

Căn phòng quá chật, lại bị cái giường chiếm mất một nửa.  Anh tôi phải lăn xuống gầm giường.  Người này nằm gác lên người kia.  Cái bô để dưới chân giường, thỉnh thoảng bị va chạm, vang những âm thanh rổn rảng càng khua động thêm nỗi sợ hãi của mọi người.

Nằm im được một lát, hoàn hồn lại, mọi người bắt đầu nghe ngóng.  Tôi dán tai xuống nền gạch.  Đứa cháu gái đã lăn xuống nằm cạnh tôi, hai tay nó ôm đầu, hai chân nó lọt vào hai chân tôi.  Tôi hỏi nhỏ:

“Tina nằm có chật không?”

“Không, cô ơi.  Tina sợ quá.”

“Đừng có khóc.”

Tôi vỗ về đứa cháu.  Nhưng cùng lúc đó những tiếng nổ ình ình lại dội thốc lên.  Đứa cháu bỏ tay, ôm chặt lấy tôi, người nó run cầm cập.  Trời ơi, súng bắn cả sau vườn mình.  Tôi nghe tiếng súng đằng sau vườn thật trong, thật buốt.  Thằng em ghé vào tai tôi:”A.K. Thôi, tụi nó về rồi.

Tôi kéo nó:

“Mày nằm xuống đi.”

“Không can chi mô chị.  Để em ngồi.

“Cánh cửa sổ bỗng bị bật ra và cứ thế, hai cánh cửa cứ dội mở ra, đóng ập vào theo những tiếng nổ lớn.  Tiếng đạn ở sau vườn bắn thật rát.  Má tôi thì thầm:

“Đánh tới đồn vận tải.”

“Không, đồn trường bia.”

“Không, đánh cùng khắp.  Con nghe phía vận tải, phía trường bia, phía ruộng, phía sau đường rầy.”

“Suỵt, im đi cho với.  Trời ơi.  Trời ơi.  Trời ơi.”

Tiếng trời ơi đất hỡi bỗng nằm ngay trên chót lưỡi.  Bầu trời xoẹt lửa sáng trưng, đất rung chuyển như địa chấn.  Lên cơn rồi.  Tôi cũng không thể nằm yên để nghe tiếng dội tức cả ngực được.  Tôi muốn ngồi nhổm dậy để nghe ngóng, nhưng chỗ nằm chật không nhúc nhích được.  Đứa em họ lue nay cũng chen được một chỗ, hai chân nó chuồi dưới eiường đầu nó thò ra khỏi một nửa cửa phòng.   Nó lại bật diêm lại có tiếng la nhỏ: con khỉ, tắt diêm đi.  Ngọn diêm tắt phụt.  Nhưng trong bóng tối, lúc này tôi tưởng tượng ra đươc rồi.  Tôi đồng điệu run với mạ tôi, anh tôi, em gái tôi.  Tôi đồng điệu co quắp, cố đè nén sự run rẩy, cố ưỡn tung người lên để tiếng nổ bớt dội ngực.  Đứa em họ tôi nghe ngóng một hồi rồi ngồi dậy, nó bò ra gian nhà ngoài, chúng tôi nín thở chờ đợi.  Chỉ một lát sau, nó bò vào nói rỉ tai từng người:

Nó ở đầy sân vườn nhà mình.”

“Suỵt.”

Lại nhiều tiếng suỵt lọt ra khỏi cửa miệng như một hơi huýt gió nhỏ.

Anh tôi giọng hơi gắt:

“Nó bắn như pháo ở bên ngoài, vài tiếng động nhỏ làm sao nghe được.”

Rồi anh tiếp:

“Quải gì, nó chỉ về đánh đồn Trường Bia.  Lần  trước cũng đánh suốt một đêm, sáng ra là rút hết.”

Tôi mừng thầm. Chúng tôi chịu đựng có lẽ đến hai tiếng đồng hồ.  Tôi cố đưa cổ ty lên nhìn mặt chiếc đồng hồ, nhưng rủi cho tôi, tôi mang đồng hồ không có kim dạ quang.  Và ngoài tôi ra chẳng có ai kịp thì giờ mang đồng hồ hết.  Dù sao chúng tôi cũng hy vọng mong cho trời sáng.  Ông anh tôi không biết sao bỗng trở chứng kêu đau bụng bất thình lình.  Vậy là chiếc bô lại có dịp được dùng tới.  Chúng tôi đau khổ vì lát lát mấy đứa nhỏ đòi đi tiêu, đi tiểu.  Lát lát anh tôi lại kêu đau bụng, mà cái bô thì quá nhỏ.  Mọi người vùa nằm vừa run.  có nhiều lúc ngay cả chân tay, thân thể cũng không nghe mình nữa.

Nhưng rồi nhờ sự chịu đựng quen dần, tôi tỉnh lại được và cơn run rẩy biến mất.  Hình như chúng tôi đã chịu đựng một thời gian khá dài và bình minh sắp đến.  Tôi nghe tiếng rục rịch trong chuồng gà ở đàng sau tấm vách tường lọt vào nhờ hai cánh cửa sổ đã bật tung cùng với tiếng súng đạn hỗn loạn.  Thái, tên cậu em họ, đã bình tĩnh ngồi dựa vào tường, và phì phà trên môi điếu thuốc lá lúc nào.  Tôi lần tay, nắm chặt tay nó:

“Thái, liệu có yên được không?”

“Em làm răng biết được, cái nớ thì chịu…”

Tôi lại hỏi anh tôi, lúc đó đã nằm trên giường vì không chịu nổ sự chen lấn dưới đất:

“Anh, sáng mai chắc yên há anh?”

“Làm răng biết được, anh cũng chịu.”

Tôi thất vọng.  Những ánh lửa xẹt ngang dọc phía ngoài cửa sổ không còn nũa, nhưng hai cánh cửa vẫn còn bị dội bật ra bật vào vì những tiếng nổ lớn.  Súng to, súng nhỏ đang nổ ran từ mặt.Quốc lộ, từ miệt chùa, từ phía sau đường rầy.  Căn nhà của chúng tôi nằm đơn lẻ, chịu đụng bốn mặt đang đánh nhau.  Quốc lộ và bờ ruộng ở ngay trước mặt đường rầy xe lửa ở đàng sau lưng.  Hai phía hai bên, một xéo với đồn Trường Bia, một xéo với đồn Vận tải An Cựu.

Không thể nằm yên để chờ tới sáng, tôi lại khơi chuyện:

“Sáng ngày yên chắng ra đường thấy dễ sợ lắm!”Thái phà khói thuốc trúng ngay vào mặt tôi:

“Buồn quá, lúc này có súng đỡ sợ hơn nhiều.  Biết vậy tối qua em lên đơn vị.”

“Không biết tới sáng đã yên được chưa?”

Tôi hỏi hoài một câu như người ngớ ngẩn:  Biết đâu.  Mà yên chứ.  Sáng ra mà súng đạn không ngừng thì chết hết.

“Trời ơi, đừng nói, tụi nó trong vườn.”

Đứa em gái của tôi cười nhỏ:

“Má sợ chi mà sợ dữ rứa.  Chị Vân, sáng ra chị với em đi thăm trận đánh nghe.  Coi chừng về Sài Gòn viết một phóng sự chiến trường đầu năm đầy gay cấn.”

“Giỡn chi mà giỡn vô hậu tế đợi rứa.  Mấy chuyện đó đừng có ham.”

Má tôi cằn nhằn.  Nhưng chúng tôi đã bớt dần cơn sợ hãi, bắt đầu nói chuyện được, mà câu chuyện cũng bớt ngớ ngẩn.  Lúc này tiếng súng ở trong vườn đã dịu dần, nhưng xubg quanh thì vẫn còn nổ ran.  Tôi nằm mà mắt không rời khỏi cánh cửa sổ phía trên đầu đứa em gái.  Tôi nằm chờ, cho tới khi bầu trời tối mịt bên ngoài kia bị hút bớt màu đen đặc.Lúc này tôi cần sự bình tĩnh, cần sức mạnh.  Tôi mong cho trời sáng thì trời đã gần sáng.  Mấy chiếc lá cây phất phơ bên ngoài cửa sổ đã hiện lờ mờ, rồi rõ dần.  Mấy đứa cháu tôi kêu khát nước.  Chúng tôi chờ đợi cho tiếng súng bớt ồ ạt.  Thái mới đi ra ngoài rót mọt ly nước cho hai đứa nhỏ.  Tiếng súng đã có vẻ thưa hơn, bức màn đêm đã bớt mắc kẹt đạn.  Anh tôi hy vọng hơn ai hết:

“Thái, coi yên súng đem xe Honda ra ngoài, anh muốn lên Từ Đàm.  Chắc chị và mấy đứa nhỏ sợ ghe lắm.”

Gia đình tôi lúc này đang chia làm hai.  Chị dâu tôi và mấy đứa và mấy đứa nhỏ con ở căn nhà trên đầu dốc Bến Ngự.  Nên anh tôi là người lo lắng nhất.  Nhưng chắc không sao.  Mọi người tự an ủi.  Đến sáng là yên, vậy sáng rồi.  Môi má tôi đã bớt tím, tay chân bà cũng bớt run rẩy.  Nhưng nổi vui mừng của chúng tôi không được lâu.  Đúng lúc tôi nghe tiếng gà gáy sau chuồng gà thì tiếng  súng đã bắt đầ nổ lại.  Rồi có tiếng đấm cửa rầm rầm, cùng nhiều tiếng chân chạy ở ngoài sân:

“Mở cửa, mở cửa.”

Thôi chết rồi.  Chúng nó đã tới.  Chúng nó sắp tràn vào nhà.  Má tôi mặt tái xanh, định trại tới tắt ngọn đền vừa mới thắp.  Tiếng đại bác dưới Phú Bài bắn lên ầm ầm.  Tiếng súng nhỏ nổ chát chúa.  Cánh cửa muốn bật tung vì những tiếng tập.  Thái bò ra giữa nhà.